Chú Đô là trưởng nam trong nhà có năm anh chị em. Sau 1975, cha của chú đi tù cải tạo. Mười năm có lẻ. Quyền huynh thế phụ. Chú thay cha đỡ đần cho mẹ để nuôi nấng bốn người em nheo nhóc. Khi gia đình có giấy định cư theo diện HO (Humanitarian Operation) – chương trình di dân nhân đạo do chính phủ Mỹ phối hợp cùng Việt Nam thực hiện – thì chú đã hơn nửa đời người, nếu cho một đời là 60 năm tròn.
Đến xứ tự do, chú Đô lại nỗ lực làm việc. Chú làm quần quật, hết việc này đến việc khác, bảo đảm mấy đứa em học hành đến nơi đến chốn. Rồi chú lại thay cha mẹ già dựng vợ, gả chồng cho họ. Có lẽ vậy mà trong nhà ai cũng thương và kính trọng chú. Từ cha mẹ đến bốn người em, rồi sau này là em dâu, em rể, kể cả đàn cháu sau này.
Các em lấy vợ, lấy chồng, nhà cửa ổn định. Chú Đô rảnh tay, bắt đầu tham gia “chánh chị.” Nhưng có phải chú ứng cử làm nghị viên, dân biểu gì cho cam. Chú là tiếng nói mạnh mẽ trong nhóm “Đời Nước Việt.” Quán cà phê ở trung tâm thành phố cách nhà chỉ vài phút lái xe là nơi chú và các đồng minh mỗi ngày bàn chuyện thế sự. Chú muốn “cứu nước Mỹ.” Cũng như ngày xưa, chú đã cứu gia đình dưới ách Cộng Sản, chờ ngày cha về đoàn tụ.
Nhà của chú là một tổng hành dinh để mỗi tối chú Đô lên Du-Tu-Be bàn luận về “chánh chị.” Đối tượng tham gia cùng chú Đô ở khắp tiểu bang trên nước Mỹ, như Georgia, Houston, North Carolina, Philadelphia. Tiểu sử của họ cũng rất đa dạng. Người thì từng vượt biển, người thì đến Mỹ theo diện nhân đạo như chú, người thì may mắn định cư ở Mỹ khi mà lượng khách ngoại quốc nhập cảnh Việt Nam đã có khá nhiều Việt Kiều.
Nếu thủ đô có một Bạch Cung để bàn quốc sự thì garage nhà chú là một Hắc Đài. Vì không có nhiều phòng như Bạch Cung nên chú vẫn phải dùng nó để chứa những thứ đã về hưu mà chú không chịu tiễn biệt.
Chú Đô chia garage thành ba góc: góc của đồ điện tử hỏng, góc của bàn ghế vẫn còn dùng được, và góc dành riêng cho cái ghế bành của chú. Thứ đồ vật, nói cho đúng, không còn là bàn ghế nữa, mà đã trở thành một nơi để chú kêu gọi đồng minh “cứu nước Mỹ” qua những chương trình “lai chim” mỗi tối.
Tôi gọi là chú Đô là chú vì chú là anh ruột của ba tôi, năm nay cũng ngoài 70 tuổi. Người chú chắc nịch như cái trụ cứu hỏa, và mang trong mình những quan điểm đã đạt đến độ cứng của ‘thép đã tôi’ vào khoảng năm 1987, không hề suy chuyển. Bạn có thể đưa chú xem một sự thật, một kết quả nghiên cứu khoa học. Bạn có thể mang tới ba nhân chứng, cho chú xem hàng chục video của sự thật. Chú Đô sẽ nhìn tất cả, gật gù ra vẻ trầm ngâm, rồi nói: "Hay đó. Mà thôi, như tao đang nói…" và tiếp tục đúng ngay chỗ chú vừa bỏ dở, như thể năm phút vừa qua chỉ là một cơn gió hơi khó chịu vừa thổi ngang rồi tan.
Cái ghế bành là ngai vàng của chú, và thành thật mà nói, nó như một đống rác, vì nó quá cũ. Nó cũ chứ không phải cổ. Một bên tay ghế đã gần gãy, chú dùng dây cao su cột lại. Cái thanh để điều chỉnh độ cao thì cứ tự động bật ra không báo trước. Nó có một thứ mùi mà ba lần dùng máy giặt chuyên nghiệp chỉ đủ sức xáo trộn chứ không tài nào xóa được. Vậy mà chẳng ai dám bỏ đi.
Chuyện bắt đầu rất vô tội. Má tôi, người phụ nữ có sự dứt khoát đáng sợ của một bà mẹ từng nuôi bốn đứa con và tiễn đưa hai bà sui, tuyên bố rằng cái garage đang trở thành "nơi đồ phế thải tụ tập âm thầm phá hoại gia đình mình", và đề nghị cả nhà bắt tay dọn dẹp.
Chú Đô ngồi cách đó hai phòng mà vẫn nghe được, hét vọng ra: "Đừng có đụng vào cái ghế của tao!"
"Không ai đụng ghế của anh hết, anh Hai," má tôi gọi vọng lại, bằng cái giọng bà vẫn dùng để nói dối với con nít hai tuổi và đàn ông ngoài sáu mươi. "Tụi em chỉ dọn dẹp thôi."
Buổi dọn dẹp bắt đầu vào một sáng thứ Bảy, và nó giống một cuộc khai quật khảo cổ xuyên qua lớp trầm tích của đời sống gia đình hơn là một việc nhà bình thường. Chúng tôi tìm thấy một cái máy fax mà chú Đô khăng khăng bảo "vẫn còn hữu dụng lắm.” Bản thân cái máy, khi cắm điện, chỉ phát ra đúng một tiếng "tách" nhỏ đầy phẩm giá, rồi im lặng mãi mãi.
Chúng tôi tìm thấy cái điện thoại quay số mà chú Đô khăng khăng"vẫn chạy tốt,” trong lúc tay kia chú đang cầm sợi dây điện thoại đã đứt lìa, phất phơ như một khúc vòi tưới cây.
Món đồ nào chú cũng bênh vực. Đó chính là điều kỳ lạ về những món đồ hỏng mà người ta cứ khư khư giữ lại: chẳng phải giữ chúng vì chúng còn dùng được, mà vì buông tay có nghĩa là phải thừa nhận một phiên bản nào đó của chính mình, người từng mua và dùng, đã hư hỏng không bao giờ sửa được nữa.
Chú Đô ngồi nhìn cái máy fax chuẩn bị khiêng ra thùng rác, và nói: “Vứt đồ hấp tấp. Rồi sẽ tiếc cho coi."
"Chú Đô," tôi nói, "lần cuối có người gửi fax là hồi nào rồi?"
"Không phải vấn đề đó."
"Vậy vấn đề là gì?"
"Vấn đề là không ai được vứt bỏ một món đồ chỉ vì nó cũ."
“Nó không phải cũ, mà nó hư rồi chú Đô.”
Em họ tôi, 26 tuổi, mới ra trường ngành kế toán. Nó mang trong người sự liều lĩnh đặc trưng của người chưa từng thua một cuộc tranh luận nào với bậc trưởng bối, quyết định thử một lần cho ra lẽ: sửa chú Đô.
Nó ngồi xuống cạnh chú với cái laptop và một hồ sơ tài liệu đàng hoàng, cố giải thích cho chú hiểu vì sao chiến lược đầu tư của chú – vốn chỉ gói gọn trong câu "vàng. Nếu chung quanh mình là vàng thì người khác sẽ nể phục mình" – đã cho kết quả tệ hơn hầu như mọi chiến lược khác mà một người có tài khoản ngân hàng có thể chọn trong suốt ba mươi năm qua.
Nó cho chú xem biểu đồ. Nó cho chú xem con số. Nó kiên nhẫn đến mức tôi đứng nhìn mà thấy nghẹt thở, như coi ai đó ráng dạy đại số cho một viên gạch.
Chú Đô nghe hết cả bài thuyết trình. Chú gật đầu đúng những chỗ cần gật. Nghe xong, chú vỗ vỗ tay em họ tôi, nói: "Cháu giỏi lắm. Mà thôi, vàng. Lúc nào cũng vàng, là nhất.”
Em tôi nhìn tôi. Tôi nhìn em tôi. Rồi cả hai cùng nhìn cái ghế bành của chú Đô. Đúng lúc đó, cái thanh điều chỉnh bung ra, một tiếng “rầm” khô khốc.
"Chú chính là cái ghế đó," em tôi nói khẽ. "Chú thật sự là cái ghế đó.”
Có những người giống hệt cái ghế bành ấy, hư hỏng theo một kiểu đã được xác nhận rõ ràng, nguy hiểm cho những ai đứng gần, đã được những người cầm trong tay bằng chứng thật sự giải thích cặn kẽ nhiều lần mà tuyệt nhiên không hề lay chuyển. Không phải vì bằng chứng yếu, mà vì việc lay chuyển chưa bao giờ có trong kế hoạch của họ.
Chú Đô giữ những món đồ đó không phải vì nó còn hữu dụng (dù chỉ là ảo tưởng của chú.) Chú giữ nó vì đã xây cả một cái tôi lên trên nền móng đó, mà cái tôi thì luôn là kết cấu chịu lực, không thể tự dưng đổi móng ngôi nhà chỉ vì ai đó cho xem những video đã quay những cây cột móng đã mục rửa.
Hãy Tiếp Tục Ra Sân Chơi
Chiều hôm đó thùng rác đầy ắp: cái máy fax, cái điện thoại quay số, cục chặn cửa từng là máy làm bánh mì, và mấy thùng dây điện của những thiết bị chẳng còn ai nhớ nổi công dụng. Cái ghế bành thì không vào thùng rác, vì hình như không ai nỡ vứt bỏ anh ruột của ba mình, cho dù người đó đã trở nên giống như cái ghế bành.
Nhưng có một điều đã thay đổi, và điều đó không phải là chú Đô. Đó là cái garage.
Đến chiều, chúng tôi đã dọn đủ chỗ để ráp lại cái bàn bóng bàn từng nằm tháo rời, tủi thân, phía sau bình nước nóng suốt sáu năm trời. Ba tôi và các em họ ráp bàn trong lúc mặt trời từ từ lặn, và chỉ 20 phút sau, trong cái garage đó đã có một thứ thật sự sống động, chạy được, hoạt động được, một điều gì đó mới mẻ, không cần ba người ngồi giải thích cho nó hiểu vì sao nó sai khi tin vào vàng.
Chú Đô ngồi trên cái ghế bành mà chúng tôi đã dời tới gần cửa garage, nhìn cái bàn bóng bàn được dựng lên. Chú đang xem cả nhà xây dựng một điều gì đó mà không ai bắt chú phải tham gia.
"Cái bàn đó rồi sẽ gãy cho coi. Nhựa rẻ tiền," chú tuyên bố.
Không ai trả lời. Chúng tôi bắt đầu giao banh. Trái banh nảy hai tiếng gọn gàng, sảng khoái, ở cả hai bên lưới, và ba tôi đỡ lại bằng một tiếng "hự" đầy khoái trá thật lòng, và cái âm thanh của một ván chơi bắt đầu.
Chúng tôi không sửa được chú. Người ta không sửa được một cái ghế bành bằng cách cãi nhau với nó, và cũng không sửa được một con người bằng cách thắng họ trong một cuộc tranh luận. Điều chúng tôi làm, thay vào đó, là ngừng để cuộc sống của mình xoay trục quanh sự từ chối lay chuyển của chú, và cứ thế dựng lên cái bàn bóng bàn, ngay trong khoảng không gian mà sự cố chấp của chú từng chiếm giữ.
Chú vẫn còn ở đó. Cái thanh nâng ghế thi thoảng rớt ra. Quan điểm vẫn đông cứng từ năm 1987. Chú vẫn ngồi ở góc duy nhất của cái garage, nơi giờ đây đã có sự sống thật sự diễn ra.
Có những người mà chúng ta không thể tranh luận để kéo ra khỏi cái ghế của họ. Ta chỉ có thể xây phần còn lại của căn phòng chung quanh họ, để họ giữ lấy cái ngai vàng trong viện bảo tàng riêng do chính họ dựng nên, còn những người khác thì cứ tiếp tục ra sân mà chơi.
Kalynh Ngô



Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình