Hôm nay,  

Ngược Dòng Sông Mã

2/14/200800:00:00(View: 9813)

- Tùy bút của Xuân Đỗ

Đất Thanh Hóa gần quê tôi, từ nhỏ tôi đã nghe và biết về vùng đất này. Bố tôi và các anh lớn con ông Bác đã đi “bè” chở nứa từ Thanh hóa về cho mẹ tôi và các chị lớn trong họ  làm nghề đan cót, một làng nghề cha truyền con nối mà năm mươi năm sau tôi trở lại quê  vẫn thấy các bà các cô cặm cụi ngồi đan.

Nghề đan cót không biết du nhập làng tôi từ hồi nào, nhưng một khi lúa gặt về cần quây che, thóc thu hoạch về cần chỗ chứa thì các tấm cót quê tôi vẫn là sản phẩm không thể thiếu trong các làng mạc vùng châu thổ sông Hồng. Tuy sồ cung ổn định, giá cả phaỉ chăng, nhưng sức lao động bỏ ra so với giá trị sản phẩm thu về thì quả là không tương xứng.

Bao thân phận từ các cô gái của lứa tuổi mươì hai mười ba đến các bà mẹ quê tuôi" cổ lai hy thất thập vừa qua vụ mùa laị cặm cụi đêm ngày, âm thầm mắt ngó xuống, chân tay đan làm các thao tác xem như không mỏi, nhưng nỗi mệt đã ăn sâu trong tâm thức, trong da thịt, trong lục phủ ngũ tạng, trong máu huyết để cả một đời không rời xa caí làng nhỏ bé từ đơì này sang đời kia chỉ an phận chốn quê.

Các bà các cô thì ngồi một chỗ, tầm nhìn không xa quá cái cổng làng.Cơm ăn quanh năm thì cứ quả cà vơí muối, thêm bát canh cua mồng tơi pha chút mướp hương. Năm thì mươì họa có chút thịt heo kho cùng vaì nắm tôm tép lưới được ven sông. Lâu lắm các cô gaí ở tuổi bẻ gãy sừng trâu mơí được cùng cánh trai làng lưc lưỡng khiêng gánh các tấm cót lên chợ phiên để giao hàng hoặc trao đôi" bán buôn.

Lúc này họ mơí có dịp gặp nhau, cùng xà vào ăn bát bún riêu, quanh hàng bánh đúc, uống bát chè xanh để rồi thầm gưi" trao nhau vaì câu tình tứ, dạn dĩ hơn thì ít lời chọc ghẹo kiểu quê. Để rôì hết phiên chợ, tạm chia tay, gái thì quay về đan cót, trai thì sửa soạn cho chuyến đi xa vượt truông nhà Hồ xuôi thuyền về Thanh hóa. Từ môí liên hệ ngành nghề, Thanh hóa chẳng phải ngẫu nhiên mà trở thành vùng đất gần gũi vơí tôi từ tuổi ấu thơ.

*

Bẵng đi hàng chục năm, kể từ ngày di cư vào nam, Thanh hóa mờ nhạt trong tôi. Có một lần gợi nhớ khi nghe bản tin tường thuật các máy bay Mỹ đánh bom cầu Hàm Rồng, tuy  không gây tổn thất nhiều về nhân mạng, nhưng làm tê liệt tuyến đường chiến lược Bắc Nam. Chuyện bom đạn thì hồi đó chiến tranh chẳng chừa ai, trong nam ngoài bắc đều chung số phận. Nhưng Thanh hóa còn chịu đói kém thường xuyên do lũ lụt từ thượng nguồn các sông đổ về nhằm mùa bão lụt tháng chín tháng mười hàng năm.

Tới khi tàn cuộc chiến, anh em tù cải tạo từ miền nam ra lại được dồn về các trại nằm dọc thượng nguồn sông Mã. Thanh hóa bỗng chốc trở thành một địa danh hãi hùng khi nơi đây các người tù vốn không quen với lối lao động “chặt nứa thả bè” nhiều người đã phải bỏ mạng theo dòng nước lũ. Chẳng thế mà từ đầu thập niên 80 đã có những vần thơ được sinh viên Việt nam đọc từ hải ngoại, ngay giữa lòng khuôn viên đại học Berkley, đại để:

Mưa đông rét ào ào gió lộng

Đứng ngâm mình vớt nứa giữa dòng sông

Bạn tưởng tôi da sắt bọc xương đồng

Không! Tôi đang sống trong trại giam...Việt cộng

Khi gặp lại những người còn sống sót về nam, tôi mới thấy thương cho các anh họ và bố tôi đã một thời rong ruổi trên sông nước kéo những bè nứa vượt sóng đem nguồn nguyên liệu về đổi lấy chén cơm, quả cà cho mấy chị em tôi.

Ôi! một thời sao laị có cái cảnh kiếm miếng cơm manh áo khốn khổ như vậy. Có điều bố tôi và các cháu ông không bao giờ than thân trách phận về lối sống vừa như giang hồ trên sông nước vừa nhiều hiểm nguy chực chờ mỗi chuyến xuôi bè. Âu cũng là cái nghiệp, không có nứa thì không có nghề đan, không đan thì treo niêu treo bát. Thân phận nơi chốn quê đất chật người đông chỉ còn cách tìm đường xa xứ, xa quê theo sự vẫy gọi của đám cai mộ phu cho các đồn điền cao su Long thành, Dầu tiếng phương nam.

*

Quả số tôi không có duyên vơí sông nước, chứ không thì cũng lại sung vào đội ngũ xuôi bè. Đưa đẩy thế nào tôi theo ông chú họ phiêu bạt ra tận Hà nội, được chút học hành thân lập thân, ít năm sau vào quân đội.

Vì sẵn có máu giang hồ lại chịu tình nguyện nơi hòn tên mũi đạn, vừa có số may được các xếp thương, đời tôi cũng le lói một thời trong đời binh nghiệp. Nhưng càng le lói lắm càng...tù lâu năm. Khi cuộc chiến ngã ngũ, tôi cũng như bao thân phận thanh niên thời chiến laị sa vào cái “bẫy” học tập cải tạo. Vì được hứa người một tháng kẻ hai tuần, moị người chui đầu vào rọ.  Chính sách tự thân đã là một sự xấu hổ, nhưng cá nhân tôi laị xấu hổ hơn vì tác giả của cái chính sách lừa lọc này lại là kẻ đồng hương quê tôi, một thời đứng đầu ngành công an tại thành phố mang tên Bác.Tất nhiên trách kẻ viết mơí chỉ là một vế, cái vế đáng phỉ nhổ thì ai nấy cũng hiểu.

Trở lại chuyện đi tù, người ra Thanh hóa thì đi chặt nứa, tụi tôi lên Yên bái thì đi chặt bương (cùng họ vơí nứa nhưng thân to gấp ba). Hai cánh rừng có chung một đặc điểm là có một loài vắt xanh, một loại giống đỉa, thân như con sâu nhỏ nhưng hút máu thì dai hơn cả đỉa. Loại này luôn tìm chỗ kín nhất của thân thể, nằm im chui sâu (giống như điệp viên Phạm xuân Ẩn), rồi mơí ra tay hút máu, để rồi khi khổ chủ phát hiện thì cũng là lúc chúng đã say máu nằm vật ra như một anh nghiền thuốc cuối cơn vật vã. Nhiều đêm tối trời, lao động về mệt mỏi, anh nào để nguyên đồ lao động đi ngủ thì đêm ấy địa bàn hoạt động của lũ vắt coi như bỏ ngỏ, thân xác khổ chủ mặc tình cho nó vầy vò chẳng khác thân thôn nữ lạc vào tay một sở khanh con địa chủ!

*

Dần dà được chuyển về miền Trung du, trụ lại đất Vĩnh Phú. Đang viết về Thanh Hóa, tự nhiên đổi sang đất này (thì tùy bút mà).Vĩnh Phú vốn là đất của những đồi sim, đồi trà. Hai loại cây, mỗi loài một vẻ. Một loài cây hoang, một thứ cây trồng, một thứ để ăn, một dùng để uống. Hoa sim được nhắc nhớ trong tình yêu lứa đôi ở tuổi học trò, cánh trà thêm nguồn ngẫu hứng cho các buổi mạn đàm tọa ẩm. Một loài được e ấp vì cánh hoa, một được ấp ủ vì lá búp. Sim mang màu tím rượi buồn, trà đậm màu xanh đáy mắt. Một loài gợi nhớ hình ảnh nên thơ mơ mộng, một đượm nét đài các kiêu sa.. Một như nơi hẹn hò của các cặp tình nhân thơ ngây vụng trộm, một như chốn hội ngộ của các mặc khách tao nhân. Hai loài thực vật mang sắc thái khác nhau, nhưng lại là nguồn cảm hứng ít thấy được trân trọng qua các loài hoa lá khác.

Trà thì tôi không hiểu nhiều, lại không biết thưởng thức, vì đó là những thứ của ông tôi, bố tôi, nhưng đồi sim hơa sim thì đã ám ảnh tôi từ thủơ học trò. Trước chỉ được biết sim qua nét vẽ, qua tứ thơ, nhưng nay tận mắt thấy sim chỉ là những bụi sim thấp vừa tầm, mọc hoang rải rác trên những đồi thoải, bìa rừng, không phải là những cây sim lớn phải “vin cành” giống cây bưởi cây cam như vài nhà văn nhà thơ mô tả.

Ở tuổi học trò hầu như chúng tôi đều thuộc bài thơ Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Vừa được học qua mônVăn, vừa được ngâm diễn qua các buổi văn nghệ ở trường. Về sau nhờ Phạm Duy phổ nhạc thì baì thơ đã đi vào huyền thoại. Đến thời mặc aó lính, hình ảnh của các cuộc hành quân dù ở thung lũng A Sao hay chiến trường Tây bắc  khi qua các đồi sim, bài thơ nghe như “tiệp”với tâm tư  những người lính của cả hai miền. Cho đến khi vào tù, mỗi khi nhớ nhà hát lén “nhạc vàng”, thì bài hát vì có chữ “bộ đội” nên không những không bị kiểm điểm mà còn đươc các cai tù ngầm khuyến khích hát... thêm! Thế mới biết âm nhạc đôi khi trở thành thứ ngôn ngữ chung phi ý thức hệ.

Nhớ lại hồi mơí biết bài thơ, tôi không hiểu lắm về câu, “tím cả chiều hoang biền biệt”, cho đến một hôm nhân lúc lao động về, khi vác cuốc xuống đồi chè thì trời đã xế chiều. Tuy mệt mỏi, nhưng ngoại cảnh làm tôi bất giác nhớ tới bài thơ. Cảnh chiều tà, mặt trời khuất bóng, những áng mây lơ lửng, cảnh vắng, đồi thưa, vài vạt sim tím, lại xa nhà, nhớ vợ, tủi thân cho số phận; cảnh vật tâm tư lúc đó như đan quyện vào nhau, từ ấy tôi hiểu được ý thơ. Sau này khi đi tù về, biết tác giả Hữu Loan là người Thanh hóa thì tôi lại càng nhớ nhiều về vùng đất quê ông.

*

Ra tù, lúc này tình hình có phần cởi mở, vì bắt đầu thời kỳ mở cửa. Tình cờ tôi được đọc một bài ký sự đăng trên tuần báo Văn nghệ, mang tựa đề, “Caí đêm hôm ấy đêm gì”, ký cái tên Phùng gia Lộc. Tôi thì vẫn phục cái tính bất khuất của nhà thơ Phùng Quán (hình như ông cũng sanh ở miền Trung), đang liên hệ xem hai ông này có họ hàng gì không. Nhưng ông Lộc lại sanh tại Thanh hóa, viết baì ký sự tả huỵch toẹt về caí đói thê thảm của người dân xã ông, mà bi kịch nằm ngay trong gia đình ông với cái lối thu lúa bất nhân của đám cán bộ xã, bất kể ít chục cân thóc đã dấu trong caí aó quan dành sẵn từ lâu để làm ma cho bà mẹ chờ chết.

Nhờ đang dịp “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, bài báo được in lại trên báo Tuổi Trẻ gây xúc động mạnh trong cả nước. Tiếng tăm cũng làm ông xất bất xang bang, khiến ông phải “sơ tán” ra Hà nội để tránh sự hằn học của đám lãnh đạo địa phương. Ông chỉ viết có một bài và một bài làm ông trở thành một nhà báo có hạng.

Nhà thơ Hữu Loan, nhà báo Phùng gia Lộc, hai người hai thế hệ cầm bút nhưng cùng một tâm huyết, cùng sanh ra và thiết tha với vùng sông Mã. Một đã chết sớm ở tuổi 50 phần do lao tâm lao lực, một đang thọ ở tuổi 90, nhưng quá nửa đời người lận đận lao đao. Dù vậy, cả hai sẽ còn được nhắc nhớ trong lòng những người yêu thơ, yêu công lý các thế hệ mai sau.

Bất giác tôi nảy sinh một ước mơ, có một ngày nào đó tư nhiên có một mạnh thường quân hỗ trợ cho sáng kiến lập một giải hàng năm vinh danh các nhà thơ mang tên Hữu Loan, một giải vinh danh các nhà báo mang tên Phùng gia Lộc thì quả là món quà vô giá cho những người con yêu của vùng đất thượng nguồn sông Mã, miền đất chịu quá nhiều nghiệt ngã của cả “con người” lẫn thiên nhiên. 

XUÂN ĐỖ

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.