Hôm nay,  

Xuân Thiền

10/02/200800:00:00(Xem: 9598)

- Thích Thông Huệ

Đề tài này có vẻ lạ lẫm đối với người đời, nhưng quen thuộc với những người con Phật, và đặc biệt thân thiết với các Thiền Sinh, vì liên quan đến công phu tu tập hàng ngày.

Nói về mùa xuân, ai cũng hình dung đến những điều tốt đẹp đang chờ đón mình trong năm mới. Nhưng rồi mùa xuân cũng đi qua, xuân năm nay trở thành xuân năm trước. Thời gian qua không bao giờ trở lại, như tuổi già không thể quay về thời trai trẻ, con người mỗi ngày một tiến gần đến cái chết. Hiểu rõ điều này không phải để chúng ta có cái nhìn yếm thế bi quan về cuộc đời, mà để nhận ra sự bình đẳng tuyệt đối của lý vô thường chi phối mọi loài vật. Từ đó ta có cách sống phù hợp với đạo lý, chuẩn bị chu đáo cho ngày từ giã cõi đời.

Thiền sư Thiên Tùng có bài kệ:

Sáng nay đều nói thêm một tuổi

Tôi bảo ngày này bớt một năm

Thêm bớt lại qua số khôn tính

Chỉ cần dứt sạch duyên thế gian

Cốt là biết được trong duyên chủ

Trăm ngàn ức kiếp thường an nhiên

Các Thiền sư cũng thường làm thơ, nhưng thơ của các Ngài không chứa đựng những tình cảm thông tục mà trái lại, tràn trề đạo vị. Mượn cảnh bên ngoài, các Ngài diễn tả nội dung tâm chứng của mình, đồng thời nhắc nhở cảnh tỉnh cho người. Sáng ngày mùng một Tết, ai nấy đều mừng nhau thêm một tuổi, chúc nhau tấn tài tấn lợi, hạnh phúc tràn đầy. Chỉ riêng Thiền sư lại thấy mọi người bớt đi một năm trong quỹ thời gian hạn hẹp. Tuy vậy, " Nói thêm nói bớt nói lại nói qua" chỉ là những con số tương đối theo quy ước của người đời. Thật sự, thời gian vốn vô cùng, không gian vốn vô biên, làm sao cân đo đong đếm" " Dứt sạch duyên thế gian" không phải trốn vào rừng xanh tránh duyên, mà vẫn tiếp duyên  nhưng không dính mắc với trần cảnh. Chủ yếu là làm sao trong muôn duyên nhận ra "duyên chủ", thì dù trải qua trăm ngàn ức kiếp cũng đều an nhiên tự tại.

Người chủ trong muôn duyên ấy là ai" Làm sao có thể tự tại giữa hai bờ  sinh - tử, làm sao vĩnh viễn trong Xuân thiền khi bốn mùa đất trời vẫn mãi luân lưu bất tận"

Nhiều tiền thân của Đức Thích Ca là bậc Đại thí chủ. Ngài đã bố thí cúng dường những vật phẩm mà người đời không sao bắt chước được : Tài sản, vợ con, thậm chí móc mắt, chặt tay, chẻ xương, lóc thịt ... để cầu Đạo Vô Thựơng. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường, ta khó thể tin được điều phi thực tế ấy. Bởi vì, trừ tiền bạc tài sản, chẳng ai cần đến các bộ phận trong cơ thể ta, trừ những người bệnh phải ghép cơ quan tạng phủ, mà cũng phải trải qua rất nhiều thủ tục xét nghiệm và phẫu thuật phức tạp mới có thể sử dụng được. Thật ra đây chỉ là ẩn dụ. mượn hình ảnh diễn tả công phu tu hành : "Bố thí" là buông xả, không đắm nhiễm, không dính mắc. Người đời khi mắt vừa thấy sắc liền khởi niệm phân biệt đẹp xấu, đẹp khen xấu chê, khen rồi muốn chiếm hữu, xấu lại mong xa lánh. Tương tự khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi ... Từ đó tạo nghiệp, nghiệp thiện dẫn đến ba đường lành (Trời - Người - A tu la), nghiệp ác đưa vào ba đường dữ ( Địa ngục - Ngạ quỷ - Súc sanh). Riêng những bậc đạt đạo, dù đang ở trong trần thế, sáu căn vẫn tiếp xúc với sáu trần, vẫn rõ ràng thấy nghe hay biết, nhưng tâm các Ngài không vướng bận, không dao động, ấy  là thực hiện hạnh bố thí tích cực và đầy đủ ý nghĩa nhất.

Luật sư Nguyên đến hỏi Thiền sư Huệ Hải:

- Hòa thượng có dụng công tu tập chăng

Thiền sư đáp:

- Có dụng công

Luật sư hỏi tiếp:

- Hòa thượng dụng công thế nào

- Đói đến thì ăn, mệt đến thì ngủ.

- Mọi người ai cũng như vậy, có thể cho là dụng công giống Hòa thượng chăng"

- Chẳng giống. Khi đói họ chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ. Khi mệt chẳng chịu ngủ, tính toán đủ điều.

Phật Hoàng Trần Nhân Tôn trong bài Phú cư trần lạc đạo có bài kệ:

Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Nghĩa:

ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà có báo thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền

Là người, ai cũng có những nhu cầu thiết yếu, trong đó ăn và ngủ là đòi hỏi tự nhiên theo quy luật sinh tồn. Nhưng do sử dụng ý thức phân biệt, nên ăn thì đòi món ngon vật lạ, ngủ còn suy nghĩ tính toán được mất hơn thua. "Đói ăn mệt ngủ" của các Thiền sư, mới nghe tưởng đơn giản nhưng thật sự, đó là cơ phong cao vút của các bậc ngộ đạo hồn nhiên xứng tánh. Các Ngài vẫn ăn vẫn ngủ, nhưng với tinh thần tuỳ duyên, không chọn món ăn ngon, nơi ngủ tốt, cũng không bắt cơ thể chịu đói khát mệt nhọc. Khổ hạnh ức chế là trái với tự nhiên, buông lung hưởng thụ lại sa vào tội lỗi, cả hai cực đoan đều không phù hợp với lý Trung đạo của nhà Phật. Các Ngài đã nhận ra và hằng sống với "Của báu trong nhà", nên ở giữa chợ đời mà vẫn vui với Đạo. Hàng ngày vẫn đối diện với cảnh mà không sinh tâm phân biệt thị phi tốt xấu, vẫn giữa muôn duyên mà tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ, thì ngay đó là sống Thiền, đâu cần hỏi Thiền làm chi nữa"

Nhưng làm sao nhận ra "Của báu trong nhà""

Chúng sanh vô minh chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm sinh diệt là thật mình, từ đó tạo nghiệp thiện ác rồi quẩn quanh trong lục đạo. Những bậc Giác ngộ nhận ra thân tâm cảnh đều do duyên hợp huyễn có, như điện chớp như sương mai. Ánh sáng giác ngộ bừng lên, bóng tối vô minh tự dưng không còn;  như căn nhà muôn đời tối tăm, khi đèn bật lên tự nhiên sáng rực.Bóng tối lúc ấy trú ẩn nơi nào" Bóng tối không chạy đi đâu khác, ánh sáng cũng không có chổ cư ngụ. Chúng chỉ là hai mặt của thực thể, tạm thời đối đãi qua lại. Tâm người cũng thế khi còn vọng tưởng phiền não tức còn trong bóng tối, khi dứt bặt vọng niệm mà vẫn thấy biết rõ ràng là lúc ánh sáng bừng lên. Như vậy, chúng sanh và Bồ tát đều cùng một bản thể là Tánh giác thường trụ, sẵn đủ ở mọi loài, nếu quên (mê) là phàm phu, nhớ lại (ngộ) là Hiền Thánh.

Mặt khác, những đợt sóng tâm thức chợt có chợt không, mang hình tướng của pháp trần nên có sinh có diệt, còn tánh giác không hình tướng nên không hề có đến đi sinh diệt bao giờ. Phần hữu hình là Sắc, bị hạn cuộc về thời gian và  không gian, thuộc Tích môn. Phần ẩn tàng là Không, là thể tánh nguyên vẹn của vũ trụ vạn loại, thuộc về Bản môn. Đời là mặt hình tướng biêủ hiện, Đạo là phần ẩn tàng không hình tướng. Nhưng người tu không phải bỏ đời cầu đạo, mà từ thế giới hữu vi của Đời mà nhận ra lý Đạo vô vi. Thiền sư Linh Vân trãi qua ba mươi năm đi tìm lẻ thật, chỉ thấy có lá cành rụng khô. Không ngờ của báu sẵn đủ trong nhà, vì mãi phóng tâm đuổi theo cảnh mà cô phụ chính mình. Khi đủ thời tiết nhân duyên, nhìn hoa đào nở, Thiền sư hoát nhiên đại ngộ. Chân lý nào ở nơi hoa đào nở" - Hoa tàn hay nở là sự biến đổi tất nhiên của các pháp. Thiền sư đứng trước Hoa, không khởi niệm dính mắc trên hoa cũng không nhắm mắt chẳng nhìn, mà ngay nơi hoa trực nhận tánh thấy, trở về con người chân thật ban sơ, chưa bao giờ vắng thiếu.

Một vị Tăng hỏi Thiền sư Huệ ở Hoa Nghiêm:

- Người xưa nói: "Vọng tâm không chổ nơi tức Bồ đề". Vậy ngay khi đang vọng có Bồ đề không "

Thiền sư trả lời:

- Lời đáp đã rõ.

Tăng thưa:

- Con không hội.

- Vọng tâm không chổ nơi tức Bồ đề.

Câu đáp của Thiền sư thật không có chổ cho đương cơ bám víu. Nếu Ngài bảo "có" hay "không có Bồ đề". Ngay khi niệm khởi, biết niệm chỉ là hư dối (vọng), tức không chổ nơi sinh ra. biết rõ như thế là Giác (Bồ đề), ngay đó tức là vô sanh (Niết bàn). cảnh giới Niết bàn không ở đâu xa mà ngay đương xứ, khi tâm Đốn ngộ lập cước trên cái thấy như thị, quán triệt thực tướng các pháp đang là trong sát na hiện tiền bất động. Nhận ra sát na vĩnh cữu ấy, Ngài Ca Diếp mỉm cười trong hội Linh Sơn, Lục tổ Huệ  Năng thốt lên:  "Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh ...". đời tu của các Ngài vượt qua một bước trọng đại, nhà Thiền gọi là chuyển Y, rắn hóa rồng không đổi vảy.

Đại thi hào Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều bất hủ, trong giây phút chợt tỉnh trước tảng đá  phân kinh của Thái Tử Lương Chiêu Minh, đã có những câu thơ xuất thần.

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu

Và:

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo  phân kinh thạch đài hạ

Tái tri vô tự thị chân kinh.

Thái Kim Lan dịch:

Người tu được tâm độ ấy rồi

Linh Sơn chỉ ở long người thôi

Và:

Ta đọc Kim Cương trên nghìn lượt

Lắm điều sâu kín hiểu không rành

Đài đá phân kinh nay được đến

Mới hay “không chữ” ấy chân kinh.

Một bậc trí đức tài hoa siêu tuyệt như thế, nghiên cứu kinh Kim Cương công phu khó ai sánh nổi như thế, vẫn phải than rằng, còn lắm điều sâu kính diệu mầu chưa hiểu thấu.

Bởi vì, hiểu kinh bằng ý thức phân biệt, bằng tư duy của chất xám thì chỉ hiểu trên mặt văn tự ngôn ngữ, chưa phải là kinh thật. Khi mọi vọng niệm bặt dứt, xoay lại chính mình bắt gặp con người chân thật hằng hữu, mới hay hội Linh Sơn chỉ tại “tâm đầu”, mới hay chân kinh chính là “Kinh vô tự”.

Kinh vô tự mới là kinh chân thật. Vì cớ sao" Vì ở nơi ấy không thể dùng lời diễn tả, không thể dùng ý nghĩ suy. Bặt đường ngôn ngữ, dứt tuyệt tâm hành mà vẫn tường tận rõ biết. Như Lão tử đã nói : “Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh”. Đạo mà còn nói được chưa phải là Đạo thường, Danh mà còn gọi tên được chưa phải là Danh thường. Đạo và Danh chân thường không hình tướng nên không đến đi, không tư lường được nên không có tên gọi. Và cũng vì không tên nên được đặt rất nhiều tên, tùy cảm nhận của đương cơ khi sáng  Đạo (Phật tánh, Pháp thân, Chân tâm, Bản lai diện mục, Ông chủ …) hoặc khi muốn khai thị cho người (Cây Bách trước sân, ba cân gai …). Liên hệ đến cảnh Xuân, các Ngài cũng đã thi vị hóa con người chân thật ấy bằng nhiều tên: Nhất Chi Mai của thiền sư Mãn Giác, Chúa Xuân của sơ tổ Trúc Lâm, Tâm xuân của thiền sư Tuyết Đậu …

Thiền sư Thanh Viễn Phật Nhãn đời Tống diễn tả mùa xuân của Ngài như sau:

Ngày xuân xuân trong núi

Việc xuân thảy đều xuân

Hồ xuân ánh xuân chiếu

Khí xuân hết mây xuân

Khách xuân lòng xuân động

Thi xuân xuân càng tươi

Chỉ có xuân biết xuân

Muôn kiếp một mùa xuân.

Quả là một mùa xuân sung mãn, hiện diện khắp mọi nơi, từ cảnh vật bên ngòai đến tận đáy sâu tâm thức. Thiền sư tu trên núi, thấy ánh nắng ấm áp chiếu trên mặt hồ xanh biếc, không khí trong lành thoang thoảng hương hoa, vài cụm mây trắng bồng bềnh trôi trên bầu trời thênh thang … Ngài biết mùa xuân đất trời đang đến. Người đời trước cảnh xuân, ai cũng thấy lòng rộn rã theo sự đổi mới của thiên nhiên, tươi trẻ theo sắc màu lộng lẫy của ngàn hoa, tưng bừng theo tiếng chim líu lo trên cành. Tâm hồn người biết Đạo cũng chan hòa với vạn vật, nhưng các Ngài thật sự sống với chúa Xuân, thưởng thức Xuân đời bằng Tâm Xuân, nên muôn kiếp vẫn chỉ một mùa Xuân ấy. Khi ngắm cảnh mà có ý thức phân biệt ta là người ngắm, cảnh là đối tượng được ngắm, thì người thưởng xuân chỉ là khách. Nhưng khi Tâm Xuân thưởng ngoạn Xuân đời, thì tất cả đã hòa quyện thành một thể nhất như. Chúa Xuân hiển hiện rõ ràng, luôn luôn có mặt.

Khi vua Lý Thái Tông vào núi thăm Thiền sư Thiền Lão, vua hỏi:

- Hòa thượng ở núi này bao lâu"

Thiền sư trả lời bằng hai câu kệ:

Đản tri kim nhật nguyệt

Thùy thức cựu xuân thu

Dịch:

Sống hôm nay biết hôm nay

Còn xuân thu trước ai hay làm gì

Người đời luôn bận rộn với biết bao nhiêu ý nghĩ, hết suy tính chuyện tương lai đến hoài niệm về quá khứ. Thiền sư thì không thế, các Ngài luôn an trú vững chãi trong giây phút hiện tại, chánh niệm tỉnh giác trên từng biến dđộng của thân, từng thay đổi của tâm và chuyển dời của cảnh. Thân tâm cảnh vô thường chi phối, song các Ngài vẫn viên mãn trong sát na hiện tiền bất động. Vì sao được như thế" Bởi vì:

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân

Dịch:

Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác

Trăng trong mây bạc hiện tòan chân

Trực nhận và hằng sống với chánh giác chân thường, thì mọi vật hữu hình hay vô hình đều nằm trong ánh giác, đều hiển hiện pháp thân thường trụ. Có phải đây là khoảnh khắc thiên thu mà “Tình dữ vô tình tề thành Phật Đạo”" Chạm mắt tức Bồ đề, Ta Bà thành tịnh độ, tất cả pháp thế gian chẳng phải là pháp Phật đó sao"

Đối với những bậc đạt đạo, tất cả pháp đều là pháp Phật vì các Ngài đã thẩm thấu tinh thần bất nhị, tư tưởng vút cao của Phật môn. Trong thường tục mà siêu tục, trong khổ đau có hạnh phúc, trong ràng buộc có giải thóat. Không thể tìm hạnh phúc chân chính, tìm giải thoát tuyệt đối ở ngoài chốn đau khổ ràng buộc, cũng như tìm Chúa Xuân không phải chờ mùa đông đi qua. Bởi vì chúa Xuân luôn có mặt, sự an lạc xuất thế gian vẫn được hiện hữu ngay trong cuộc sống đời thường, khi vẫn hay biết rõ ràng mà không còn khởi niệm phân biệt hai bên. Đến đây thì “Thênh thang bầu trời rộng, đứng riêng trong mù tột”. Như Thiền sư Tuyết Đậu ngắm cảnh xuân về trên núi, thấy cành xanh trùng điệp, nước hồ long lánh, trời xanh bát ngát.Tâm Ngài chan hòa cùng muôn tượng mà vẫn đứng riêng trong mù tột, ngay trong cảnh thế gian mà vẫn an vị nơi xuất thế. Từ đó, chúng ta thấm thía hai câu kệ thường được nhắc đến trong nhà Thiền:

Bóng trúc quét sân trần chẳng động,

Vầng trăng xuyên biển nước không chao.

Trong thế giới hữu vi, các Thiền sư vẫn sinh hoạt, vẫn thi thiết nhiều phương tiện độ sanh. Nhưng dù việc gì, ở đâu, các Ngài vẫn luôn an trú ở vô vi, như bóng trúc quét sân không làm bụi bay, vầng trăng chiếu bóng xuống biển không làm nước chao động. Như thế, xuất trần là ở trong trần mà không vướng nhiễm bụi trần, xuất thế gian là vẫn ở trong thế gian mà không bị phiền lụy bởi cuộc sống thế gian. Hình ảnh ông già tay cầm bình rượu tay xách cá chép, bức tranh cuối cùng trong mười bức  tranh chăn trâu Thiền tông, là hình ảnh đẹp tuyệt của những bậc giác ngộ đi vào cuộc đời, tùy duyên hóa độ muôn loài mà không thấy có chúng sanh nào được độ.

Áp dụng vào công phu tu tập, trước hết chúng ta cần dọn dẹp rác rưởi trong kho tâm thức, tức những nghiệp ác của thân miệng ý tích chứa bao đời nay. Dùng nghiệp lành thay thế nghiệp ác, dần dần ta trở nên người hiền thiện, ý luôn nghĩ điều lành, miệng luôn nói lời lành và thân luôn làm việc lành. Ta tưới tẩm tâm mình bằng những ý nghĩ lạc quan tích cực, yêu đời yêu người, mong muốn mọi người đều được hạnh phúc. Tâm ta dần trải rộng, ta thương yêu đồng loại bằng tình thương bình đẳng vô vị lợi, vì biết ai cũng có những nỗi khổ niềm đau cần chia sẻ.

Tích cực làm lợi ích cho người, theo luật nhân quả, tự thân tâm ta thấy an lạc, hòa đồng với tất cả, phiền não tham sân si dần dần giảm thiểu. Theo tinh thần Phước – Huệ song tu, một mặt ta tinh tấn tu hành, một mặt nổ lực giúp đỡ người khác tùy hoàn cảnh và khả năng của mình. Quán chiếu Bát Nhã sâu sắc, thiền sinh thấy rõ thân tâm đều do duyên hợp, chỉ giả lập mà không thật có, thì bao nhiêu phiền não nhiễm nhơ chỉ là hoa đốm giữa hư không. Khi đủ thời tiết nhân duyên, nhận ra con người thật của chính mình, đời tu ta đã có sự chuyển hóa tận gốc rễ. Ta đã có nơi chắc chắn để an thân lập mệnh, đường ta đi không còn lầm lạc, niềm tin ta không cách gì làm lung lay được nữa.

Biết rõ thân tâm cảnh đều không thật, thiền sinh có thể chịu đựng và bình tĩnh ứng phó trước sự thuận nghịch của hoàn cảnh và sự đổi thay của lòng người. Tám gió là thước đo định lực của người tu : lợi lộc, tổn hao, phỉ báng, khen ngợi, ca tụng, nói xấu, cảnh khổ, niềm vui. Đối với người này, tám hòan cảnh trên như những trận bão, với người khác như ngọn gió mạnh, với người tu khá hơn thì chỉ như cơn gió hiu hiu. Đến lúc nào đó, trước tám gió mà ta vẫn bất động an nhiên, tự biết công phu tu tập của ta đã tiến một bước dài.

Ngạn ngữ Anh có câu:

Tự xét mình miễn là không thẹn

Thị phi miệng thế có ngại gì

Cái chấp hai bên là tập khí cố hữu của con người : ưa thiện ghét ác, khen tốt chê xấu … đưa đến thị phi nhân ngã, đầu mối của sự tranh chấp bất hòa làm tổn thương cho mình cho người. Đời sống  Thiền tập giúp người tu luôn xoay lại chính mình, sống với những thời khắc hồn nhiên của tự tánh, siêu vượt thế giới của phân biệt nhị biên. Sự hồn nhiên biểu hiện qua phong cách hàng ngày, tiếp cảnh mà không duyên theo cảnh, sống giữa các pháp mà không làm bạn với pháp nào.

Mặt khác, chúng ta cần cảnh giác với những thuận duyên, vì lửa nóng dễ tránh mà nước mát lại thường làm chết chìm. Hòan cảnh luôn xuôi thuận, làm việc gì cũng thành công, được nhiều người ca tụng, khen ngợi … thường làm con người sinh tâm kiêu mạn, từ đó đường tu đi xuống mà không biết. Ngược lại, nghịch cảnh giúp ta thức tỉnh, cảm nhận sự bất toàn của cuộc sống nên bớt đắm luyến dục lạc thế gian. Gặp nhiều gian nan trở ngại, ta có cơ hội nuôi dưỡng ý chí kiên cường, cố gắng vượt qua sóng to gió lớn. Ví như cái cây mọc trên đất mầu mỡ, thường mau lớn và mau ra hoa kết trái, nhưng lại dễ đổ ngã khi gặp trận cuồng phong. Còn một cây mọc nơi đất đá cằn cỗi, tuy chậm phát triển nhưng khi đã đủ mạnh, lõi cây thường cứng và vững chãi hơn rất nhiều. cho nên, người tu chúng ta không sợ thất bại mà nên tỉnh giác trước thành công; và khi định lực tăng tiến, ta siêu vượt những niềm đau nỗi khổ cùng những niềm vui mừng của thế tục.Tuy tập khí vẫn còn và đôi lúc vẫn bùng lên mãnh liệt, nhưng nhờ công phu thiền tập, ta có sức kham nhẫn tự chủ, không để lạc vào lối rẽ đường mê.

Thiền sư Vạn Hạnh từng bảo:

Sá chi suy thịnh việc đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành

Nếu chúng ta dính mắc vào đời suy thịnh, ta cứ mãi làm khách phong trần, lang thang vĩnh kiếp trong lộ trình sinh tử. Nếu biết thịnh suy, vinh nhục chỉ như giọt sương trên cành cây ngọn cỏ, hư dối không thật, ta có thể an nhiên tự tại trước mọi hòan cảnh. Tự thân công phu theo chánh pháp, nếm mùi pháp hỉ thiền duyệt, ngay nơi bất an mà biểu hiện tự do, ngay chổ ồn ào xáo động mà sống trong sát-na bất động. Khi biết được mình là ai, đời tu của ta tăng tiến rất nhanh mà không sợ lạc lầm. tất cả các pháp luôn chuyển biến theo tiến trình nhân quả, bốn mùa đắp đổi theo nhau, nhưng ngay trong lòng sự biến chuyển đó, vẫn có một cành hoa xuân mãi không bao giờ tàn rụng.

Thiền sinh chúng ta là những người diễm phúc, hưởng được Xuân đời và cả Xuân đạo. trời đất như quán trọ, chúng sanh lên xuống ba cõi như khách qua đường, có khi tạm nghĩ chân giây lát rồi lại tiếp tục cuộc hành trình thiên lý. Nguyên nhân chỉ do điên đảo chấp thân tâm mình là thật, chấp cảnh bên ngòai là thật nên quay cuồng theo chúng mà tạo nghiệp sinh tử. Nếu biết tất cả những biến đổi của thân tâm cảnh đều là khách, con người chứng kiến mọi biến đổi ấy, người không hình tướng luôn hiện diện vượt thời gian, không gian mới là con người chân thật, chúng ta đã có nơi nương tựa vững chắc đời đời. Khi ấy, ta mới thật sự hưởng một mùa xuân bất diệt, mới sống trọn vẹn trong Xuân thiền.

Cầu chúc tất cả chúng ta đều biết cách quay gót trở về quê nhà muôn thuở, vĩnh viễn an vui trong xuân thiền – bây giờ và mãi mãi.

(Thư Viện Hoa Sen: www.thuvienhoasen.org)

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.