Hôm nay,  

Triển Vọng 2010

07/01/201000:00:00(Xem: 14941)

Triển Vọng 2010

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long, RFA

...lãnh đạo Việt Nam còn tụt lùi khi lập ra các tổng công ty...

Năm 2010 đang mở ra với nhiều triển vọng kinh tế khả quan hơn năm 2009 vừa kết thúc. Tuy nhiên, tình hình mỗi nơi lại mỗi khác. Riêng tại Đông Nam Á, các quốc trong khu vực sẽ còn gặp nhiều thách đố nghiêm trọng, kể cả và nhất là trường hợp Việt Nam. Trong chương trình đầu tiên của năm mới, Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về hoàn cảnh tranh tối tranh sáng đó. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây....
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Chúng ta vừa vượt qua một năm mà ông đã gọi là "hú vía" vì không bị tổng khủng hoảng kinh tế mà chỉ bị suy trầm toàn cầu. Qua năm mới, tình hình có vẻ khả quan hơn dù là việc phục hồi vẫn còn nhiều bất trắc ở một số khu vực. Riêng với Việt Nam, thống kê mới nhất cho thấy tốc độ tăng trưởng của quý bốn đã lên tới 6,9% so với năm ngoái và bình quân toàn năm có thể là hơn 5%, tức là cũng không đến nỗi tệ. Như vậy, triển vọng 2010 có đáng cho chúng ta lạc quan hơn không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ nói về viễn ảnh chung trước khi đề cập tới hy vọng và thách đố cho các nước Đông Nam Á và của riêng Việt Nam.
- Trước hết, hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng năm 2009 là năm suy trầm toàn cầu, xuất phát từ những biến động tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ vào năm 2008. Vì kinh tế Hoa Kỳ suy trầm từ cuối năm 2007 nên Mỹ đã tuột dốc trước tiên nhưng cũng đụng đáy sớm nhất, kể từ giữa năm ngoái và đã bắt đầu hồi phục dù không mạnh. Những chỉ dấu tiên báo ngày càng nhiều hơn cho thấy là Mỹ đang ra khỏi nạn suy trầm. Chỉ dấu tiên báo là dữ kiện cho thấy trước tình hình tương lai.
- Một chỉ dấu rõ rệt nhất là thị trường chứng khoán với chỉ số tiêu biểu là Standard and Poor's 500 đã tăng 50% kể từ dưới đáy vào tháng Ba - từ dưới 700 điểm nay đã lên tới hơn ngàn mốt. Một số chỉ dấu tiên báo khác như hàng bán lẻ và tồn kho hay hóa đơn đặt hàng cũng đều báo hiệu điều ấy. Một chỉ dấu thuộc loại hậu kiểm tức là xác nhận điều tiên báo là số người khai báo thất nghiệp lần đầu cũng bắt đầu giảm. Trên cơ sở đó, người ta dự đoán là kinh tế Mỹ sẽ hồi phục năm nay. Điều bất trắc còn lại là tâm lý thị trường, khi ngân hàng chưa dám cho vay và giới tiêu thụ chưa dám đi vay. Vì vậy, sự hồi phục tại Hoa Kỳ đã có, sẽ còn yếu ớt nhưng vẫn là khá hơn các nước công nghiệp khác.
Việt Long: Như vậy thì nếu cho rằng nguyên do hay thủ phạm là kinh tế Hoa Kỳ thì nền kinh tế này đang vươn dậy" Còn các khối kinh tế công nghiệp khác thì lại không được như thế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chính giữa cơn suy trầm nên tất nhiên gây hậu quả cho xứ khác. Nhưng các xứ khác cũng có vấn đề nội tại bên trong và bị chấn động chậm hơn nên chưa có hy vọng đụng đáy và hồi phục nhanh như Mỹ. Trường hợp điển hình là khối kinh tế Ấu Châu, vì sẽ chật vật hơn và thất nghiệp tại đây còn tăng khi đã bắt đầu giảm tại Mỹ. Riêng một vài quốc gia Âu châu thì còn chưa ra khỏi bão. Đó là các nước miền Nam như Italy hay Tây Ban Nha, miền Bắc như Ireland và Latvia, ở miền Đông như Romania và Hungary. Sáu nước này còn bị sóng gió vì mắc nợ cao và phải thắt lưng buộc bụng, cần được Liên hiệp Âu châu và Ngân hàng Trung ương Âu châu cấp cứu. Biện pháp tăng chi để kích cầu sẽ khiến họ phải trả giá rất đắt sau này. Các nước đó hy vọng là kinh tế Mỹ mà hồi phục thì sẽ kéo họ ra khỏi hố sâu, nhưng điều ấy hơi khó vì tình trạng bấp bênh tại Mỹ, nên bất ổn xã hội sẽ là viễn ảnh năm nay của mấy xứ này.
- Nói chung, Âu châu có một sai lầm lớn là chỉ đổ lỗi cho Hoa Kỳ mà không rà lại bản thân với những nhược điểm riêng của họ, nhất là sổ sách tài sản của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng Âu châu có vấn đề trầm trọng hơn hệ thống ngân hàng Mỹ mà đến nay vẫn chưa kiện toàn chấn chỉnh. Thí dụ như có khoảng hơn ngàn tỷ Euro tài sản, tương đương với một ngàn 400 tỷ đô la Mỹ, là loại bất trắc mà mới phân nửa là được kiểm tra và xác định là bị lỗ. Tức là Âu châu còn một hố sâu đến hơn 700 tỷ đô la trước mắt, cho nên năm nay sẽ còn bị một đợt sóng dữ dập vào hệ thống ngân hàng và gây hậu quả tai hại cho trị giá đồng Euro.
Việt Long: Còn đầu máy thứ ba là Nhật Bản thì e chừng như vẫn còn nằm ỳ tại chỗ, có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nhật Bản coi như mất đứt hai chục năm kể từ vụ bể bóng đầu tư năm 1990 và cho đến nay vẫn chưa hồi phục. Riêng năm nay thì sẽ có tăng trưởng rất thấp, chỉ dưới 1%, và với cái giá là lại phải tăng chi ngân sách để bơm tiền vào kinh tế. Kết quả là Nhật mắc nợ nhiều nhất thế giới, quốc trái của Nhật đã vượt quá 200% của Tổng sản lượng GDP, là điều chưa từng thấy bao giờ tại bất cứ xứ nào, tính theo tương đối hay tuyệt đối. Trong hoàn cảnh đó, các nước thế giới vẫn khó trông cậy vào đầu máy này.
Việt Long: Thành ra, có phải là phục hồi mạnh nhất năm nay chính là các nền kinh tế Á châu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, các nền kinh tế đang phát triển đều bậy dậy mạnh hơn cả, với bình quân có thể là 6,5%. Trong nhóm này, Á châu ngoài Nhật có đà tăng trưởng mạnh nhất, dẫn đầu là Trung Quốc với 10%, Ấn Độ với 8%, Indonesia đạt 6,5% và Nam Hàn chừng 6%. Việt Nam ở mức trung bình trong nhóm này. Tuy nhiên, và đây là vấn đề đang quan tâm trong năm nay, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng cao nhất nhưng bằng biện pháp giả tạo nên sẽ phải trả giá sau này. Ba nước Ấn Độ, Indonesia và Hàn Quốc bị ảnh hưởng suy trầm nhẹ nhất và có nền móng lành mạnh hơn nên sẽ ổn định hơn trong tương lai.


- Trường hợp Trung Quốc sở dĩ đáng chú ý là xứ này lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Khi các thị trường xuất khẩu đều co cụm mà họ vẫn đạt mức tăng trưởng cao vào năm ngoái thì đến 95% động lực tăng trưởng là do lượng đầu tư bằng tăng chi và gần một ngàn tỷ rưỡi đô la là tín dụng trong đó có rất nhiều khoản vay bất trắc. Vì vậy, xứ này sẽ bị nguy cơ khủng hoảng ngân hàng vì nợ xấu, bị nguy cơ bong bóng đầu tư vì tiền bơm vào chỗ trũng. Qua năm 2010 này, khi các nền kinh tế công nghiệp hóa còn èo uột và thị trường xuất khẩu chưa đủ mạnh mà Trung Quốc vẫn muốn đạt mức tăng trưởng cao thì họ phải nghĩ đến giải pháp khác.
Việt Long: Và giải pháp ấy là tìm các thị trường khác, có phải không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng năm nay, Trung Quốc sẽ mở chiến dịch chinh phục và khuynh đảo các nền kinh tế Đông Nam Á. Đã vậy, các quốc gia trong khu vực này cũng muốn xuất cảng nhiều hơn. Vấn đề chính trong năm nay vì vậy sẽ là tìm ra thị trường xuất khẩu khi mà thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ còn èo ruột và giới tiêu thụ Mỹ còn ngần ngại.
- Yêu cầu xuất khẩu ấy từ các nước Á châu xưa nay vẫn lấy ngoại thương làm lực đẩy có thể dẫn đến hai chuyện. Xứ nào cũng ráo riết sản xuất và cạnh tranh với nhau để bán ra ngoài, hàng họ sẽ giảm giá đáng kể và hy vọng đẩy lui nguy cơ lạm phát tại các nước có chế độ ngoại hối linh động. Thứ hai là vì thị trường xuất khẩu còn hạn chế, nên Á châu sẽ không có tốc độ tăng trưởng cao như người ta trông đợi. Tình hình 2010 vì vậy có khả quan hơn mà chưa hẳn là rực rỡ và rủi ro tranh chấp về mậu dịch sẽ gia tăng, nhất là với Trung Quốc và Âu châu.
Việt Long: Vấn đề ấy đưa chúng ta trở lại một chuyện nhiều lần được đề cập tới. Đó là các nước Á châu sẽ phải nghĩ tới thị trường nội địa của mình thay vì cứ quá chú trọng và bị lệ thuộc vào xuất khẩu.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy về nguyên tắc nhưng thực tế thì cũng còn tùy vào hoàn cảnh từng nước. Như Singapore là quốc gia nhỏ xíu nên phải là một trung tâm thương mại trong luồng giao dịch quốc tế và lệ thuộc vào xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu xứ này lên tới 185% Tổng sản lượng GDP nên khi các thị trường quốc tế bị co cụm, họ bị suy trầm nặng nhất và biết vậy mà cũng khó phát triển thi trường nội địa quá ít dân của mình.
- Ngược lại, Indonesia với hơn 200 triệu dân lại có tỷ trọng xuất khẩu thấp nhất, chỉ bằng 27% GDP, nên bị hiệu ứng suy trầm nhẹ nhất. Ở giữa hoàn cảnh của hai xứ đó có Malaysia, Việt Nam và Thái Lan hiện vẫn lệ thuộc quá nặng vào thị trường quốc tế, từ 90% của Malaysia, đến 70% của Việt Nam và 64% của Thái, mà lại đủ đông dân ở nhà thì quả là họ nên cải cách để mở rộng thị trường nội địa. Dù thì trường này có mức tăng trưởng thấp hơn thì cũng vẫn ổn định hơn và ít bị hiệu ứng quốc tế dội vào. Nhưng đấy là một việc khó thực hiện, nhất là cho trường hợp Việt Nam vốn đã quá lạc quan trông đợi vào viễn ảnh hội nhập với thế giới sau khi là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới từ đầu năm 2007.
Việt Long: Chúng ta kết thúc chương trình với trường hợp Việt Nam. Quốc gia này có 86 triệu dân, có một số nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho sản xuất nên vì sao lại chưa thể phát triển được một thị trường nội địa mạnh hơn"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tất cả là ở cái đầu và phân tích chuyện Việt Nam tôi cứ e là mình trở thành lẩn thẩn vì đã nói đi nói lại nhiều về cùng một loạt vấn đề.
- Thứ nhất là cái đầu hướng ngoại nên cứ cho rằng sự thịnh vượng đến từ việc buôn bán với bên ngoài và ai có quyền mà ngồi canh cửa để trưng thu trên việc buôn bán đó thì làm giàu lẹ nhất. Họ không nghĩ đến đa số dân chúng bên trong và đây là điều đáng tiếc, cũng đáng xấu hổ nữa. Cả hệ thống giáo dục Việt Nam cũng thế, bị khủng hoảng vì không thiết thực nhìn vào nhu cầu của người dân, rồi đào tạo một lớp người chỉ biết làm gia công cho thiên hạ, tưởng đó là tiến bộ.
- Thứ hai, muốn phát triển thị trường nội địa thì phải cải thiện hạ tầng chuyển vận và phân phối bên trong, là điều được quốc tế và các nước viện trợ khuyến cáo từ cả chục năm nay mà không kết quả. Cũng trong loại hạ tầng ấy, nên nghĩ đến cải thiện nền tảng luật lệ hành chánh còn quá thô sơ lệch lạc của một chế độ quản lý rất rộng mà nông, là cái gì nhà nước cũng muốn kiểm soát chi phối mà thực tế thì chẳng điều động được gì.
- Thứ ba, phải giải tỏa cho tư doanh nội địa phát triển thay vì tập trung bảo vệ khu vực nhà nước. Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã được khuyến khích và viện trợ để cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà tiến độ thì thường xuyên chậm lụt. Từ hai năm nay, lãnh đạo Việt Nam còn tụt lùi khi lập ra các tổng công ty để tăng cường khu vực nhà nước! Thứ tư, không thể có thị trường nếu không có thông tin. Việt Nam đang kiểm soát thông tin còn khắt khe hơn trước thì còn lâu mới có kinh tế thị trường.
- Nói chung, khi khủng hoảng Đông Á bùng nổ năm 1997, Việt Nam đứng ngoài và bị hiệu ứng gián tiếp mà còn tăng trưởng được chừng 5%. Bây giờ, khi vừa bơi ra ngoài lại bị tổng suy trầm mà vẫn tăng trưởng được hơn 5% thì lãnh đạo xứ này cho là mình khôn ngoan. Thực tế là chế độ quản lý vĩ mô xứ này rất tồi tệ và đầy thất quân bình, khi khủng hoảng bùng nổ thì áp dụng khí cụ điều tiết thô thiển với cường độ quá mạnh tới mức thô bạo, và tự gieo họa cho mình mà chưa thấy hậu quả. Vì vậy, chúng ta còn nên chờ đợi nhiều bẽ bàng trước khi có những thay đổi để thị trường nội địa có thể đóng góp được nhiều hơn cho phát triển.

Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
Tôi có đứa em gái… không cùng cha mẹ, nhưng đủ thân để nhiều chuyện trong đời tôi nó biết trước người khác. Nó gọi tôi bằng chị, thỉnh thoảng ghé ăn cơm, vui vẻ và thân thiết. Cho tới một ngày, bạn tôi chuyển cho tôi một email chung, trong đó “em gái” gửi đi tố cáo tôi làm báo mà thiên lệch. Tờ báo cũng bị em buộc tội thiếu trung lập, không đáng tin cậy.Lời em tố đúng sai hoãn bàn, chỉ biết là sau đó, chúng tôi bị một số thân chủ, thân hữu tẩy chay. Nếu chuyện này xảy ra hồi tôi mới lò dò vào nghề, chắc tôi sẽ cuống lên: “Chết rồi, mình đã lỡ không trung lập ở chỗ nào? Làm báo mà bị chê là ‘take side’ kỳ quá.” Có thể tôi đã phải viết một bài thanh minh về sự khách quan để chứng minh mình hết mực công bằng với trai gái, chó mèo, đen trắng, các bên đồng đều.
Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.