Hôm nay,  

Nước Mỹ của Ai

29/05/202600:00:00(Xem: 473)
ship-151182564-1024x576
Thủy thủ trên chiến hạm USS Durham đưa người tị nạn Việt Nam từ một thuyền nhỏ trên Biển Đông lên tàu, ngày 3 tháng 4, 1975. Ảnh: National Archives, General Records of the Department of the Navy.
  
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.

Song song với huyền thoại đó là một dòng lịch sử khác ít được kể hơn, lịch sử của những cánh cửa đóng lại. Đầu thế kỷ 19, Quốc hội Mỹ mở rộng đất đai bằng Louisiana Purchase, chiếm Florida, rồi Texas, Oregon… Trong khi người châu Âu được mời gọi bằng Homestead Act 1862 cấp đất đai, người Á châu bị đẩy ra khỏi cánh cửa nước Mỹ. Đạo Luật Bài Người Hoa 1882(Chinese Exclusion Act) thẳng tay cấm người Trung Hoa, đánh dấu lần đầu tiên luật liên bang nhắm thẳng vào một sắc dân để loại trừ.

Bước vào thời đại công nghiệp, các đạo luật 1921, 1924 đặt ‘quota’ ưu đãi Bắc Âu da trắng Tin Lành, siết di dân Nam – Đông Âu, gần như đóng sập cửa Á châu. Sau Thế chiến, châu Âu đầy người tản cư, luật Mỹ vẫn chắt lọc di dân theo chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ. Đến Chiến tranh Lạnh, yếu tố chống cộng được đưa thẳng vào chính sách di trú.

Mãi đến 1965, Đạo luật Di trú và Quốc tịch mới bãi bỏ hẳn hệ thống ‘quota’ dựa trên chủng tộc và nguồn gốc quốc gia, thay bằng “hệ thống ưu tiên” dựa vào đoàn tụ gia đình, tay nghề, và yếu tố nhân đạo. Từ đó, người Á châu, Mỹ La-tinh, Phi châu mới thực sự bước vào dòng di trú hợp pháp với số lượng lớn. Nhờ vậy, cộng đồng Việt Nam, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mễ Tây Cơ… mới trở thành những khối rõ rệt trong bức tranh Mỹ về sau. Nhưng cái bóng của nỗi sợ di dân không vì thế mà tan. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, cách mạng Cuba, nội chiến Trung Mỹ, khủng hoảng kinh tế… mỗi làn sóng người mới lại làm dậy lên một câu hỏi cũ: “Họ là ai? Có đáng tin không? Có chiếm đất đai, chiếm công ăn việc làm của người Mỹ không?”

Sang thế kỷ 21, biến cố 9-11 biến di trú từ đề tài kinh tế – xã hội thành vấn đề “an ninh quốc gia”. Toàn bộ hệ thống được cải tổ với Bộ Nội An (DHS) ra đời vào. Sở Di Trú cũ bị chia nhỏ, nhập với biên phòng, hải quan. Đạo luật Patriot 2001, đặc biệt là Chương IV “Bảo vệ biên giới” trao liên bang quyền theo dõi sinh viên ngoại quốc, nối mạng dữ liệu giữa các cơ quan, và tăng lực lượng biên phòng. Từ đó, mọi cuộc tranh luận về di trú đều bị ám theo hai chữ “an ninh”. Liệu biên giới có an toàn không? Ai là “nguy cơ”? Bao nhiêu người không giấy tờ đang trong lòng nước Mỹ? Thống kê ước tính có khoảng 11 triệu người ở không giấy tờ, chiếm chừng 5% lực lượng lao động. Con số này trở thành cái mỏ vô tận cho những khẩu hiệu tranh cử.

Đó là phông nền mà Donald Trump bước vào. Ông tận dụng nó để biến di trú từ một chương luật rối rắm thành một cây đả cầu bổng trên diễn đàn chính trị.

Ngay từ lúc tranh cử, Trump đã chọn cách nói về di dân không phải bằng gương mặt và sức lao động của họ, cũng không bằng những đóng góp hàng trăm tỉ đô-la thuế mỗi năm, mà bằng những khẩu hiệu nặng mùi bài ngoại như “đầu độc máu huyết nước Mỹ”, “đến từ nhà tù, nhà thương điên”. Ông hiếm khi nhắc đến những người lương thiện hái dâu ở California, rửa chén ở New York, y tá trực đêm ở Texas, sinh viên trong giảng đường. Ông biến họ thành một “làn sóng” vô danh đầy đe dọa và ví họ như “thú vật”. Một khi đám đông “ngoài kia” bị vẽ thành mối nguy, mọi biện pháp mạnh tay đều có thể nhân danh “bảo vệ người Mỹ”.

Trong nhiệm kỳ đầu (2017–2021), dấu ấn Trump đậm nét nhất là ở biên giới phía Nam. Từ những sắc lệnh cấm công dân từ một loạt quốc gia – phần lớn là các nước Hồi giáo – đặt chân vào Mỹ, tới việc ép người xin tị nạn phải dạt sang bên kia biên giới Mễ Tây Cơ chờ đợi, rồi chính sách “zero tolerance” bức trẻ em ra khỏi vòng tay cha mẹ. Đây là những chiến lược được thi hành để phát ra một thông điệp: “Đừng bén mảng tới đây, nếu không muốn chính gia đình mình trở thành ví dụ răn đe tiếp theo.”

Nhưng biên giới chỉ là một mặt. Mặt kia nằm sâu trong nội địa. ICE – lực lượng Thi hành Di trú – được đẩy lên tuyến đầu như một lực lượng công an đặc vụ. Trên giấy tờ, ICE được lập ra để bắt người có lệnh trục xuất, dẹp buôn người, xử lý tội phạm nghiêm trọng. Dưới thời Trump, trọng tâm ấy trượt từ việc “ưu tiên tội phạm nặng” sang coi “bất cứ ai không có giấy tờ đều là mục tiêu”.

Trong vài năm trở lại đây, ICE hiện lên qua những cuộc bố ráp trong xưởng thịt, xưởng may, chợ lao động, trên đường phố. Những chiếc xe trắng không bảng số đậu lặng lẽ trước khu nhà di dân. Những lần chặn xe trên xa lộ khiến một cuốc đi chợ của người tài xế gốc Latinh có thể hóa thành chuyến bị sút thẳng về nước. Các thống kê độc lập ghi nhận số vụ trục xuất ngay trong nội địa tăng vọt, với không ít người bị đưa đi mà “tội” của họ chỉ là ở quá hạn hoặc những tội vặt vãnh. Trong mắt giới cố vấn của Trump, ICE là mũi nhọn của “cuộc chiến bảo vệ biên giới từ bên trong”. Trong thực tế, nó giống một lực lượng rình rập, biến những sinh hoạt thường ngày trong gia đình người lao động thành một chuỗi rủi ro thường trực.

Cuối nhiệm kỳ đầu, chính quyền Trump đã bắt đầu dùng Vệ binh Quốc gia, thậm chí quân đội, hỗ trợ truy bắt và trục xuất; mở thêm trại tạm giam lớn để giam người chờ trục xuất; cho phép viên chức di trú ký quyết định đuổi người ra khỏi nước mà không cần qua đầy đủ quy trình tòa án. Không phải tất cả đều thành công, vì có trường hợp bị tòa án, Quốc hội, phản ứng xã hội can thiệp, nhưng chúng cho thấy hướng đi mới “Nước Mỹ Trên Hết” của Trump với ưu tiên trên hết là “đuổi ra”, chứ không “đón vào”.

Trở lại Nhà Trắng năm 2025, ông Trump lặp lại khẩu hiệu “đợt trục xuất lớn nhất lịch sử”. Ngân sách cho ICE và biên phòng tăng cao. Vệ binh Quốc gia được điều xuống biên giới và một số thành phố lớn. Project 2025 được lấy ra khỏi ngăn kéo để biến thành chỉ thị. Số người bị bắt và trục xuất trong nội địa những tháng đầu nhiệm kỳ hai lại nhảy vọt. Các tổ chức nhân quyền ghi nhận nhiều vụ bắt bớ dựa trên “nghi ngờ” hơn là hồ sơ tội phạm cụ thể. Với nhiều gia đình, chuyện ICE trong khu phố không còn là nỗi lo xa xôi. Nó là câu hỏi rất cụ thể: sáng nay bố mẹ đi làm tối có về nhà được không.

Mũi nhọn chính sách không dừng ở người “không giấy tờ”. Lớp bị ảnh hưởng kế tiếp là tầng giữa – những người đã theo đúng luật đi đúng đường. Họ vào Mỹ bằng visa hợp lệ, học hành, đi làm, lập gia đình, đang trên đường xin thẻ xanh.  Suốt hơn nửa thế kỷ, luật Mỹ cho phép họ “điều chỉnh quy chế” ngay tại đây, nộp hồ sơ xin thường trú mà không cần quay về nước, nếu đáp ứng điều kiện. Mỗi năm khoảng một triệu đơn xin thẻ xanh, ước chừng phân nửa là của những người đang sống hợp pháp trên đất Mỹ. Đó là cây cầu nối từ thân phận “khách trọ” sang “thường trú lâu dài”.

Cuối tuần qua, chính cây cầu ấy bị rút những tấm ván quan trọng. Một thông báo từ Sở Di trú và Nhập tịch ngày 22 tháng 5 cho biết người đang ở Mỹ theo diện tạm trú, sinh viên, lao động tạm thời, du khách, nhiều trường hợp tị nạn hay được bảo vệ nhân đạo, nếu muốn xin thẻ xanh, giờ đây buộc phải rời Mỹ, trở về nước của họ nộp đơn tại lãnh sự quán. Chỉ những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt” do chính viên chức Sở cân nhắc mới được điều chỉnh quy chế ngay trong nội địa.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, thông lệ vẫn là ai vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện theo luật đều có thể “điều chỉnh quy chế” ngay trên đất Mỹ – nhất là vợ chồng, con cái công dân Mỹ, người giữ visa làm việc, du học sinh, người tị nạn sau một thời gian cư trú. Mỗi năm, khoảng một triệu hồ sơ xin thẻ xanh được nộp, và theo ước tính của một cựu quan chức USCIS, chừng một nửa trong số đó là nộp từ ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Chính sách mới đảo ngược trật tự lâu năm ấy. Chính quyền giải thích đơn giản là “Người tạm trú vào Mỹ là để ở một thời gian ngắn, với một mục đích rõ rệt. Hệ thống của chúng ta được thiết kế để họ rời đi khi chuyến viếng thăm kết thúc.”. Theo luật mới, từ nay việc nộp đơn tại Mỹ chỉ được chấp thuận trong những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt”, và nhân viên USCIS sẽ quyết định từng hồ sơ. Chính quyền gọi đây là “trở về với ý định nguyên thủy của luật”, là đóng một “khe hở” mà di dân lợi dụng để ở lại.

Nhưng bên dưới lớp chữ nghĩa đơn giản không phải là chuyện “chỉnh sửa thủ tục”, mà là một chủ trương dùng thủ tục để tạo nên trở ngại làm khó số người có thể ở lại Mỹ một cách hợp pháp.

Một gia đình ở Houston: vợ là công dân Mỹ, chồng mang visa H–1B làm kỹ sư, hai con học tiểu học. Nhiều năm qua, họ đi đúng đường, khai thuế, trình diện đúng kỳ, chờ tới lượt nộp hồ sơ xin thẻ xanh. Trước đây, họ nộp và chờ ngay tại Mỹ; chồng vẫn đi làm, con vẫn có bố đưa đón. Nay, anh buộc phải về nước nộp hồ sơ; lịch hẹn lãnh sự có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Trong thời gian đó, gia đình bị xé làm đôi, chỉ vì một chữ ký đổi quy trình.

Một bác sĩ ngoại quốc đang làm ở bệnh viện vùng nông thôn Kansas, nơi hiếm bác sĩ Mỹ nào chịu về. Bệnh viện sẵn sàng bảo trợ xin thẻ xanh cho anh. Nay anh phải rời Mỹ, chờ lãnh sự quán ở quê nhà phỏng vấn và xét đơn. Ai trực ca đêm ở phòng cấp cứu trong thời gian đó? Nếu hồ sơ bị treo vì lý do an ninh hay thủ tục, ai trả giá cho khoảng trống mà anh để lại?

Một đồng minh Mỹ ở Syria, Iraq, hay Afghanistan đang được bảo vệ tạm thời ở Mỹ Đang đi làm, cho con đi học, đang khó khăn hội nhập. Tòa đại sứ Mỹ tại Kabul đã đóng cửa từ khi Hoa Kỳ rút quân năm 2021. Nhiều lãnh sự quán các nơi khác hoạt động hạn chế. Đường quay về không chỉ là vé máy bay, mà là sinh mạng. Bảo anh muốn xin thẻ xanh hãy trở về nơi anh vừa liều chết để thoát ra là sự ác độc.

Các tổ chức nhân đạo, như tổ chức World Relief – một cơ quan nhân đạo Kitô giáo lâu năm trong lãnh vực tị nạn – dùng hai chữ “tàn nhẫn” và “chống gia đình” để mô tả chính sách mới. Chính sách này gần như xóa bỏ thông lệ hơn nửa thế kỷ cho phép người đã vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện, được điều chỉnh quy chế tại đây. Họ cảnh báo những “thế kẹt bắt buộc”. Nếu trở về, họ có thể không bao giờ quay lại. Nếu không về, hồ sơ chết yểu, họ bị đẩy từ diện hợp lệ sang bất hợp lệ.

Đặt chính sách mới này cùng với những đợt bố ráp trong nội địa và những lời hứa “trục xuất hàng loạt” cho thấy rõ mục tiêu không gì khác hơn là siết chặt di trú. Ngoài biên giới thì xây tường, đưa quân xuống. Bên trong nước Mỹ thì cho ICE và Vệ binh Quốc gia đi lùng người. Còn ngay trong hệ thống di trú hợp pháp thì siết chặt khâu xét thẻ xanh, biến mỗi bộ hồ sơ thành một ván cờ rủi nhiều hơn may.

Nhìn suốt từ cuối thế kỷ 19 tới nay, người ta luôn thấy hai cách kể khác nhau về nước Mỹ. Một bên là “nước Mỹ của di dân”, nơi hàng hàng lớp lớp người mới đến đặt thêm những viên gạch xây dựng bờ cõi. Bên kia là “nước Mỹ đóng cửa”, với những đạo luật, chiến dịch, lực lượng như ICE và hàng loạt thủ tục tưởng như thuần kỹ thuật nhưng thực ra dùng để bài di dân, sàng lọc, loại trừ, trục xuất.

Và câu chuyện lúc này không chỉ nằm ở những con số mỗi năm ICE bắt bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình bị tống khứ, bao nhiêu hồ sơ thẻ xanh bị hất ra lãnh sự quán không có cơ hội quay lại. Điều đang diễn ra là một bước ngoặt quan trọng. Nước Mỹ đang rời khỏi hình ảnh một quốc gia từng tin rằng có thể giữ vững biên giới mà vẫn tôn trọng phẩm giá con người và giữ đúng tinh thần một hợp chủng quốc. Nước Mỹ hôm nay dùng chính thân phận và số mạng của người di dân làm đòn bẩy, lá bài mặc cả và công cụ răn đe.

Chính quyền Trump đang đóng lại chính cánh cửa mà lịch sử nước Mỹ đã từng mở ra cho di dân. Đau lòng là trong tiếng khóa cửa ấy lại có cả tiếng vỗ tay của không ít di dân mới, cũ - những người đã từng trốn quê nhà đến đây mưu cầu hạnh phúc, thay vì chìa tay đỡ kẻ đến sau, lại sẵn sàng quay lại rút ván.

Nina HB Lê

Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.