Hôm nay,  

Triển Vọng 2010

07/01/201000:00:00(Xem: 14923)

Triển Vọng 2010

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long, RFA

...lãnh đạo Việt Nam còn tụt lùi khi lập ra các tổng công ty...

Năm 2010 đang mở ra với nhiều triển vọng kinh tế khả quan hơn năm 2009 vừa kết thúc. Tuy nhiên, tình hình mỗi nơi lại mỗi khác. Riêng tại Đông Nam Á, các quốc trong khu vực sẽ còn gặp nhiều thách đố nghiêm trọng, kể cả và nhất là trường hợp Việt Nam. Trong chương trình đầu tiên của năm mới, Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về hoàn cảnh tranh tối tranh sáng đó. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây....
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Chúng ta vừa vượt qua một năm mà ông đã gọi là "hú vía" vì không bị tổng khủng hoảng kinh tế mà chỉ bị suy trầm toàn cầu. Qua năm mới, tình hình có vẻ khả quan hơn dù là việc phục hồi vẫn còn nhiều bất trắc ở một số khu vực. Riêng với Việt Nam, thống kê mới nhất cho thấy tốc độ tăng trưởng của quý bốn đã lên tới 6,9% so với năm ngoái và bình quân toàn năm có thể là hơn 5%, tức là cũng không đến nỗi tệ. Như vậy, triển vọng 2010 có đáng cho chúng ta lạc quan hơn không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ nói về viễn ảnh chung trước khi đề cập tới hy vọng và thách đố cho các nước Đông Nam Á và của riêng Việt Nam.
- Trước hết, hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng năm 2009 là năm suy trầm toàn cầu, xuất phát từ những biến động tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ vào năm 2008. Vì kinh tế Hoa Kỳ suy trầm từ cuối năm 2007 nên Mỹ đã tuột dốc trước tiên nhưng cũng đụng đáy sớm nhất, kể từ giữa năm ngoái và đã bắt đầu hồi phục dù không mạnh. Những chỉ dấu tiên báo ngày càng nhiều hơn cho thấy là Mỹ đang ra khỏi nạn suy trầm. Chỉ dấu tiên báo là dữ kiện cho thấy trước tình hình tương lai.
- Một chỉ dấu rõ rệt nhất là thị trường chứng khoán với chỉ số tiêu biểu là Standard and Poor's 500 đã tăng 50% kể từ dưới đáy vào tháng Ba - từ dưới 700 điểm nay đã lên tới hơn ngàn mốt. Một số chỉ dấu tiên báo khác như hàng bán lẻ và tồn kho hay hóa đơn đặt hàng cũng đều báo hiệu điều ấy. Một chỉ dấu thuộc loại hậu kiểm tức là xác nhận điều tiên báo là số người khai báo thất nghiệp lần đầu cũng bắt đầu giảm. Trên cơ sở đó, người ta dự đoán là kinh tế Mỹ sẽ hồi phục năm nay. Điều bất trắc còn lại là tâm lý thị trường, khi ngân hàng chưa dám cho vay và giới tiêu thụ chưa dám đi vay. Vì vậy, sự hồi phục tại Hoa Kỳ đã có, sẽ còn yếu ớt nhưng vẫn là khá hơn các nước công nghiệp khác.
Việt Long: Như vậy thì nếu cho rằng nguyên do hay thủ phạm là kinh tế Hoa Kỳ thì nền kinh tế này đang vươn dậy" Còn các khối kinh tế công nghiệp khác thì lại không được như thế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chính giữa cơn suy trầm nên tất nhiên gây hậu quả cho xứ khác. Nhưng các xứ khác cũng có vấn đề nội tại bên trong và bị chấn động chậm hơn nên chưa có hy vọng đụng đáy và hồi phục nhanh như Mỹ. Trường hợp điển hình là khối kinh tế Ấu Châu, vì sẽ chật vật hơn và thất nghiệp tại đây còn tăng khi đã bắt đầu giảm tại Mỹ. Riêng một vài quốc gia Âu châu thì còn chưa ra khỏi bão. Đó là các nước miền Nam như Italy hay Tây Ban Nha, miền Bắc như Ireland và Latvia, ở miền Đông như Romania và Hungary. Sáu nước này còn bị sóng gió vì mắc nợ cao và phải thắt lưng buộc bụng, cần được Liên hiệp Âu châu và Ngân hàng Trung ương Âu châu cấp cứu. Biện pháp tăng chi để kích cầu sẽ khiến họ phải trả giá rất đắt sau này. Các nước đó hy vọng là kinh tế Mỹ mà hồi phục thì sẽ kéo họ ra khỏi hố sâu, nhưng điều ấy hơi khó vì tình trạng bấp bênh tại Mỹ, nên bất ổn xã hội sẽ là viễn ảnh năm nay của mấy xứ này.
- Nói chung, Âu châu có một sai lầm lớn là chỉ đổ lỗi cho Hoa Kỳ mà không rà lại bản thân với những nhược điểm riêng của họ, nhất là sổ sách tài sản của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng Âu châu có vấn đề trầm trọng hơn hệ thống ngân hàng Mỹ mà đến nay vẫn chưa kiện toàn chấn chỉnh. Thí dụ như có khoảng hơn ngàn tỷ Euro tài sản, tương đương với một ngàn 400 tỷ đô la Mỹ, là loại bất trắc mà mới phân nửa là được kiểm tra và xác định là bị lỗ. Tức là Âu châu còn một hố sâu đến hơn 700 tỷ đô la trước mắt, cho nên năm nay sẽ còn bị một đợt sóng dữ dập vào hệ thống ngân hàng và gây hậu quả tai hại cho trị giá đồng Euro.
Việt Long: Còn đầu máy thứ ba là Nhật Bản thì e chừng như vẫn còn nằm ỳ tại chỗ, có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nhật Bản coi như mất đứt hai chục năm kể từ vụ bể bóng đầu tư năm 1990 và cho đến nay vẫn chưa hồi phục. Riêng năm nay thì sẽ có tăng trưởng rất thấp, chỉ dưới 1%, và với cái giá là lại phải tăng chi ngân sách để bơm tiền vào kinh tế. Kết quả là Nhật mắc nợ nhiều nhất thế giới, quốc trái của Nhật đã vượt quá 200% của Tổng sản lượng GDP, là điều chưa từng thấy bao giờ tại bất cứ xứ nào, tính theo tương đối hay tuyệt đối. Trong hoàn cảnh đó, các nước thế giới vẫn khó trông cậy vào đầu máy này.
Việt Long: Thành ra, có phải là phục hồi mạnh nhất năm nay chính là các nền kinh tế Á châu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, các nền kinh tế đang phát triển đều bậy dậy mạnh hơn cả, với bình quân có thể là 6,5%. Trong nhóm này, Á châu ngoài Nhật có đà tăng trưởng mạnh nhất, dẫn đầu là Trung Quốc với 10%, Ấn Độ với 8%, Indonesia đạt 6,5% và Nam Hàn chừng 6%. Việt Nam ở mức trung bình trong nhóm này. Tuy nhiên, và đây là vấn đề đang quan tâm trong năm nay, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng cao nhất nhưng bằng biện pháp giả tạo nên sẽ phải trả giá sau này. Ba nước Ấn Độ, Indonesia và Hàn Quốc bị ảnh hưởng suy trầm nhẹ nhất và có nền móng lành mạnh hơn nên sẽ ổn định hơn trong tương lai.


- Trường hợp Trung Quốc sở dĩ đáng chú ý là xứ này lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Khi các thị trường xuất khẩu đều co cụm mà họ vẫn đạt mức tăng trưởng cao vào năm ngoái thì đến 95% động lực tăng trưởng là do lượng đầu tư bằng tăng chi và gần một ngàn tỷ rưỡi đô la là tín dụng trong đó có rất nhiều khoản vay bất trắc. Vì vậy, xứ này sẽ bị nguy cơ khủng hoảng ngân hàng vì nợ xấu, bị nguy cơ bong bóng đầu tư vì tiền bơm vào chỗ trũng. Qua năm 2010 này, khi các nền kinh tế công nghiệp hóa còn èo uột và thị trường xuất khẩu chưa đủ mạnh mà Trung Quốc vẫn muốn đạt mức tăng trưởng cao thì họ phải nghĩ đến giải pháp khác.
Việt Long: Và giải pháp ấy là tìm các thị trường khác, có phải không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng năm nay, Trung Quốc sẽ mở chiến dịch chinh phục và khuynh đảo các nền kinh tế Đông Nam Á. Đã vậy, các quốc gia trong khu vực này cũng muốn xuất cảng nhiều hơn. Vấn đề chính trong năm nay vì vậy sẽ là tìm ra thị trường xuất khẩu khi mà thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ còn èo ruột và giới tiêu thụ Mỹ còn ngần ngại.
- Yêu cầu xuất khẩu ấy từ các nước Á châu xưa nay vẫn lấy ngoại thương làm lực đẩy có thể dẫn đến hai chuyện. Xứ nào cũng ráo riết sản xuất và cạnh tranh với nhau để bán ra ngoài, hàng họ sẽ giảm giá đáng kể và hy vọng đẩy lui nguy cơ lạm phát tại các nước có chế độ ngoại hối linh động. Thứ hai là vì thị trường xuất khẩu còn hạn chế, nên Á châu sẽ không có tốc độ tăng trưởng cao như người ta trông đợi. Tình hình 2010 vì vậy có khả quan hơn mà chưa hẳn là rực rỡ và rủi ro tranh chấp về mậu dịch sẽ gia tăng, nhất là với Trung Quốc và Âu châu.
Việt Long: Vấn đề ấy đưa chúng ta trở lại một chuyện nhiều lần được đề cập tới. Đó là các nước Á châu sẽ phải nghĩ tới thị trường nội địa của mình thay vì cứ quá chú trọng và bị lệ thuộc vào xuất khẩu.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy về nguyên tắc nhưng thực tế thì cũng còn tùy vào hoàn cảnh từng nước. Như Singapore là quốc gia nhỏ xíu nên phải là một trung tâm thương mại trong luồng giao dịch quốc tế và lệ thuộc vào xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu xứ này lên tới 185% Tổng sản lượng GDP nên khi các thị trường quốc tế bị co cụm, họ bị suy trầm nặng nhất và biết vậy mà cũng khó phát triển thi trường nội địa quá ít dân của mình.
- Ngược lại, Indonesia với hơn 200 triệu dân lại có tỷ trọng xuất khẩu thấp nhất, chỉ bằng 27% GDP, nên bị hiệu ứng suy trầm nhẹ nhất. Ở giữa hoàn cảnh của hai xứ đó có Malaysia, Việt Nam và Thái Lan hiện vẫn lệ thuộc quá nặng vào thị trường quốc tế, từ 90% của Malaysia, đến 70% của Việt Nam và 64% của Thái, mà lại đủ đông dân ở nhà thì quả là họ nên cải cách để mở rộng thị trường nội địa. Dù thì trường này có mức tăng trưởng thấp hơn thì cũng vẫn ổn định hơn và ít bị hiệu ứng quốc tế dội vào. Nhưng đấy là một việc khó thực hiện, nhất là cho trường hợp Việt Nam vốn đã quá lạc quan trông đợi vào viễn ảnh hội nhập với thế giới sau khi là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới từ đầu năm 2007.
Việt Long: Chúng ta kết thúc chương trình với trường hợp Việt Nam. Quốc gia này có 86 triệu dân, có một số nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho sản xuất nên vì sao lại chưa thể phát triển được một thị trường nội địa mạnh hơn"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tất cả là ở cái đầu và phân tích chuyện Việt Nam tôi cứ e là mình trở thành lẩn thẩn vì đã nói đi nói lại nhiều về cùng một loạt vấn đề.
- Thứ nhất là cái đầu hướng ngoại nên cứ cho rằng sự thịnh vượng đến từ việc buôn bán với bên ngoài và ai có quyền mà ngồi canh cửa để trưng thu trên việc buôn bán đó thì làm giàu lẹ nhất. Họ không nghĩ đến đa số dân chúng bên trong và đây là điều đáng tiếc, cũng đáng xấu hổ nữa. Cả hệ thống giáo dục Việt Nam cũng thế, bị khủng hoảng vì không thiết thực nhìn vào nhu cầu của người dân, rồi đào tạo một lớp người chỉ biết làm gia công cho thiên hạ, tưởng đó là tiến bộ.
- Thứ hai, muốn phát triển thị trường nội địa thì phải cải thiện hạ tầng chuyển vận và phân phối bên trong, là điều được quốc tế và các nước viện trợ khuyến cáo từ cả chục năm nay mà không kết quả. Cũng trong loại hạ tầng ấy, nên nghĩ đến cải thiện nền tảng luật lệ hành chánh còn quá thô sơ lệch lạc của một chế độ quản lý rất rộng mà nông, là cái gì nhà nước cũng muốn kiểm soát chi phối mà thực tế thì chẳng điều động được gì.
- Thứ ba, phải giải tỏa cho tư doanh nội địa phát triển thay vì tập trung bảo vệ khu vực nhà nước. Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã được khuyến khích và viện trợ để cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà tiến độ thì thường xuyên chậm lụt. Từ hai năm nay, lãnh đạo Việt Nam còn tụt lùi khi lập ra các tổng công ty để tăng cường khu vực nhà nước! Thứ tư, không thể có thị trường nếu không có thông tin. Việt Nam đang kiểm soát thông tin còn khắt khe hơn trước thì còn lâu mới có kinh tế thị trường.
- Nói chung, khi khủng hoảng Đông Á bùng nổ năm 1997, Việt Nam đứng ngoài và bị hiệu ứng gián tiếp mà còn tăng trưởng được chừng 5%. Bây giờ, khi vừa bơi ra ngoài lại bị tổng suy trầm mà vẫn tăng trưởng được hơn 5% thì lãnh đạo xứ này cho là mình khôn ngoan. Thực tế là chế độ quản lý vĩ mô xứ này rất tồi tệ và đầy thất quân bình, khi khủng hoảng bùng nổ thì áp dụng khí cụ điều tiết thô thiển với cường độ quá mạnh tới mức thô bạo, và tự gieo họa cho mình mà chưa thấy hậu quả. Vì vậy, chúng ta còn nên chờ đợi nhiều bẽ bàng trước khi có những thay đổi để thị trường nội địa có thể đóng góp được nhiều hơn cho phát triển.

Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.