Hôm nay,  

Chế Độ Buôn Người

27/11/200700:00:00(Xem: 12704)

...Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người...

Năm 2007 sắp kết thúc đánh dấu 200 năm của một biến cố đáng chú ý, là đạo luật bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ của nước Anh. Vậy mà hai thế kỷ sau, kỹ nghệ buôn người vẫn đứng hàng thứ ba thế giới, sau buôn lậu ma túy và võ khí. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề này trong cuộc trao đổi sau đây của Việt Long với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hỏi: Thưa ông, năm 1807, Quốc hội Anh đã ban hành đạo luật cấm buôn bán nô lệ gọi là "Slave Trade Act". Hai trăm năm sau, việc buôn người vẫn là một lối làm ăn phát đạt, dù bất chính, vì chỉ thua kỹ nghệ buôn lậu ma túy và võ khí mà thôi. Do đó, chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, chúng ta sẽ đề cập tới khía cạnh kinh tế của hiện tượng ấy,  vì nạn buôn người cũng có ảnh huởng đáng kể đến Việt Nam.

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi, thưa ông, liệu người ta có tìm ra những định luật kinh tế giải thích hiện tượng đó hay không"

Thưa ông, khi William Wilberforce, một người sùng đạo và có từ tâm của Đế quốc Anh đề xướng việc chấm dứt nạn buôn người nô lệ và vận động ra đạo luật Slave Trade Act mà ông nhắc tới, những thuyền trưởng bất lương bị bắt quả tang đang buôn người nô lệ trên Đại tây dương đã phi tang để tránh tội bằng cách quăng dân nô lệ xuống nước. Mãi cho tới năm 1833, tức là 26 năm sau, Đế quốc Anh mới có đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ, gọi là Slavery Abolition Act. Một tư tưởng lớn như vậy mà mất nhiều thập niên mới có kết quả, cho nên chúng ta không quá lạc quan về tính ác và máu tham của loài người.

Liên quan đến Việt Nam, khi Đế quốc Anh thấy ra điều sai trái của nạn buôn người và chế độ nô lệ thì cũng là lúc Nguyễn Du của chúng ta viết Truyện Kiều, trong đó, mấu chốt của câu chuyện vẫn là một vụ buôn người, một thiếu nữ 15 tuổi bị bán vào một ổ điếm! Ta vẫn biết rằng cốt truyện lấy từ một tác phẩm văn học tầm thường của Trung Hoa, và rằng mình không phê phán đời xưa với quy phạm luân lý xã hội của đời nay, nhưng trong hai trăm năm qua, dân ta đã thương xót hay phê phán nàng Kiều mà ít thấy ra hay nói ra sự tồi tệ của hệ thống luật pháp và tâm lý con người đã dung túng chế độ buôn người. Hậu quả là ngày nay, Việt Nam vẫn là quốc gia nổi tiếng với nạn buôn người.

Câu trả lời của tôi vì vậy là trước khi quy luật kinh tế có thể giải thích hiện tượng đó, thì mình cần nhìn ra phản ứng văn hoá tiềm ẩn bên dưới những quyết định kinh tế.

Hỏi:  Xin lỗi, nhưng tôi e rằng sự ví von của ông có phần nào kém chính xác.  Ví dụ như truyện Kiều liên hệ gì tới chế độ buôn người, tới quy luật kinh tế hay những tệ nạn xã hội ngày nay tại Việt Nam"

Từ 200 năm nay, tác phẩm văn chương trác tuyệt này được dân ta truyền đọc và ca tụng, mà ít ai thấy sự thối nát của một xã hội có "hai kinh vững vàng" thời Minh Gia Tĩnh. Ít ai nói tới nạn tham nhũng, xiết nợ, vu cáo người lành khiến một gia đình lương thiện phải bán con gái đi làm điếm. Sau này, gia đình ấy còn kết thông gia với tay cò tham nhũng là Chung công, ông bố vợ của cậu Vương quan! Giờ đây, nhiều gia đình cũng phải bán con, nhiều thiếu nữ phải bán mình làm tì thiếp cho người nước ngoài, coi đó là một thứ tai trời ách nước, mà cả xã hội không thấy rằng thế giới đã đổi thay và những điều ấy là phi pháp.

Cái nếp văn hoá an phận và khinh miệt phụ nữ ấy mới giải thích các động lực kinh tế ghê tởm bên dưới. Nhưng, tôi e rằng chúng ta lạc đề mất!

Hỏi: Thưa đúng thế, vậy để trở lại nạn buôn người ngày nay, trước khi tìm hiểu xem vấn đề nó nằm ở đâu, ông cho rằng ở Việt Nam thì những biểu hiện gì là đáng chú ý"

Trừ có nạn bắt trẻ em đi làm du kích đã chấm dứt, thì Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người.  Phổ thông nhất là hiện tượng cưỡng bách trẻ vị thành niên, cả trai lẫn gái đi vào kỹ nghệ tình dục, bán dâm. Khi xã hội mở cửa và bước vào toàn cầu hóa thì kỹ nghệ bán dâm và ép người bán dâm cũng đã được quốc tế hoá.  Việt Nam xuất khẩu nhiều loại lao động cưỡng bách đó, dưới dạng cô dâu hay là con nuôi. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã nhập vào dòng khai thác lao động bất chính qua việc lường gạt, xiết nợ và thậm chí bạo động để ép người khác làm những loại việc họ không muốn.

Hỏi: Xin lỗi phải ngắt lời ông, nhưng tôi e rằng sự khẳng định như vừa rồi mới là có tính cách cưỡng ép. Lấy cơ sở nào để xác định như vậy" Tôi thấy là không thể nói rằng vịêc Việt Nam cho kết hôn và cho nhận con nuôi là để phụ nữ và trẻ em đi mãi dâm! Ông chứng minh được điều đó hay không"  

Trong phúc trình năm nay của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình buôn người trên thế giới, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia vừa là xuất xứ vừa là điểm tụ của nạn buôn người, cả nam, nữ lẫn trẻ em cho hai mục tiêu là mại dâm và cưỡng bách lao động. Phụ nữ và con gái Việt Nam bị buôn qua Cambốt, Trung Quốc, Thái Lan, Hong Kong, Macao, Malaysia, Đài Loan và qua cả Anh quốc lẫn Cộng hoà Tiệp. Bọn buôn người đã ngụy trang nạn nhân thành du khách hay dân lao động trong khuôn khổ xuất cảng lao công để đưa họ qua Hong Kong, Đài Loan hay Malaysia. Thậm chí họ còn tuyển mộ phụ nữ qua các công ty tìm việc và bán nạn nhân cho các băng đảng tội ác tại Trung Quốc hay Malaysia, thậm chí còn dùng các chat room trên Internet để khuyến dụ nạn nhân.

Cũng qua phúc trình của bộ Ngoại giao đã đệ nạp Quốc hội Mỹ hồi tháng Bảy vừa rồi, người ta được biết là nhiều phụ nữ Việt Nam được mai mối qua hôn nhân với người nước ngoài thực tế đã bị buôn hoặc bị khai thác. Trong năm ngoái, toà án Việt Nam đã xét xử 700 trường hợp buôn người, liên hệ tới 1.700 nạn nhân trong đó có 200 thiếu nhi. Những trường hợp như vậy chỉ là mặt nổi đã được công khai hoá mà thôi.

Hỏi: Thế cho đến nay, Việt Nam đã làm những gì để ngăn ngừa tình trạng ấy"

Thế giới đã báo động và vận động hợp tác giữa các nước để ngăn ngừa tệ nạn ấy và vì vậy, Việt Nam cũng có cố gắng cải sửa, nhưng vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư của Liên hiệp quốc năm 2000 về nạn buôn người, và Đạo luật về Xuất khẩu Lao động của Việt Nam ban hành cuối năm ngoái cho đến nay vẫn chưa đi vào áp dụng. Theo danh mục của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong báo cáo thường niên về nạn buôn người thì Việt Nam được xếp loại hai, các quốc gia chưa chấp hành những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ nạn nhân hiện tượng buôn người.

Dĩ nhiên, Việt Nam không là duy nhất hay tệ nhất so với nhiều xứ khác. Nhưng nói chung thì dư luận vẫn chưa để ý đến hiện tượng đau lòng này, ngoài một vài tuyên bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hay của Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Hỏi: Trước khi nói đến các khía cạnh văn hoá rồi kinh tế, xin hỏi ông là thế giới đã chú ý tới vấn đề này như thế nào - trước hết là về mặt pháp chế"

Từ gần 10 năm nay, thế giới đặc biệt quan tâm đến nạn buôn người. Nói đến nạn buôn người, thế giới tố giác một chuỗi hoạt động, từ tuyển mộ hay chiêu dụ tới vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, tiếp nhận và phân phối những người bị đẩy vào thị trường phi pháp và bất chính như khai thác tình dục, bóc lột sức lao động.

Ta nên phân biệt nạn buôn người, có khác với nạn chuyển người nhập lậu, thí dụ như di dân bất hợp pháp. Di dân nhập lậu trả tiền cho bọn bất lương giúp mình vượt biên và tới nơi là được hạ phóng để sống trà trộn trong cộng đồng di dân. Nạn buôn người lại tệ hơn vậy vì từ xuất xứ tới nơi tiếp nhận và làm việc, người bị buôn như nô lệ hoàn toàn nằm dưới sự khai thác của hệ thống bất lương, kể cả làm đầy tớ hay làm điếm.

Tổ chức Lao động Quốc tế ILO của Liên hiệp quốc cho biết thế giới đang có hơn 12 triệu người, kể cả thiếu nhi, bị cưỡng bách lao động, lao động để trả nợ, hoặc bị khai thác trong kỹ nghệ bán dâm. Nhiều tổ chức khác ước lượng là con số nạn nhân có thể lên tới 27 triệu người, lớn nhỏ, trai gái. Vì hiện tượng phổ biến đó, Liên hiệp quốc và nhiều quốc gia hay các cơ quan ngoài chính phủ đã vận động sự hợp tác quốc tế để bài trừ, chủ yếu là tại ba khâu chính là quốc gia xuất phát, quốc gia tiếp nhận và các tổ chức tội ác.

Hỏi: Vì sao mà vào đầu thế kỷ 21 này, thế giới vẫn còn hiện tượng bất thường đó"

Thưa ông, người ta có thể kể ra hàng chục lý do. Trước hết, hiện tượng toàn cầu hoá và thông tin lẫn việc chuyển vận dễ dàng hơn khiến người ta thấy ra nhiều cơ hội cải tiến cuộc sống ở nơi khác, và ưa đứng núi này trông núi nọ, tưởng rằng bên kia sông là ánh mặt trời nên dễ bị dụ dỗ lường gạt. Thứ hai, chênh lệch về mức sống hay tự do hoặc chế độ phân biệt đối xử của xã hội cũng khiến nhiều người muốn thoát ly và bị sa vào bẫy.

Thứ ba, chiến tranh và bất ổn xã hội khiến nhiều người bị xiêu tán và cố tìm một cuộc sống khá hơn ở nơi khác nên dễ thành nạn nhân của mạng lưới buôn người. Ngoài chiến tranh và sự sụp đổ của khối Xô viết hay nội chiến tại Nam Tư, một số biến cố cũng có thể khiến con người bị đánh bật gốc và rơi vào tình trạng bị buôn như nô lệ là nhiều dự án kinh tế đã giãn dân trên một quy mô lớn mà không có kế hoạch tái định cư.

Theo một phúc trình của Hoa Kỳ, hàng năm có chừng 80 vạn người bị buôn qua biên giới, 80% là phụ nữ, 50% là trẻ vị thành niên. Đa số nạn nhân là từ các nước Cộng sản cũ và các nước Á châu nghèo, bị buôn đi phục vụ các nước giàu có hơn.

Hỏi: Đó là những chuyển động lớn về kinh tế hay chính trị, ngoài ra ông còn thấy những lý do nào khác chăng"

Ngần ấy lý do đều không thể dẫn tới một làn sóng buôn người rất lớn như hiện nay nếu thiếu ba yếu tố quan trọng, là nạn tham ô trong chính quyền, sự hoành hành của tổ chức bất lương và thái độ thụ động của xã hội, kể cả luật pháp. Nguyên do chính là con người ta, từ chính quyền tới báo chí và các tổ chức thiện nguyện, thường coi phụ nữ bán dâm là có tội hơn là những kẻ bất lương đã đẩy họ vào chốn đó. Trong một chế độ mà công an có nhiều quyền hành như tại Việt Nam thì làm sao tội ác lại xảy ra trên một quy mô lớn như vậy nếu không có sự đồng lõa của công an và cán bộ" Dư luận lại quên mất điều này.

Như khi thấy phụ nữ Việt Nam bị bán qua Đài Loan hay Đại Hàn làm nô lệ tình dục hay lao nô, xã hội thường nghĩ ngay là vì họ tham tiền mà quên hẳn tội ác của bọn bất lương và cán bộ hữu trách. Theo cuộc khảo sát của bộ Ngoại giao Mỹ, tới 80% nạn nhân là những người muốn thoát khỏi nghề bán dâm mà không nổi. Đây là lý do vì sao ta nói tới khía cạnh văn hoá qua cách đọc Truyện Kiều khi nhiều người dửng dưng với thằng bán tơ, kẻ lại già và các nhân vật như Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà và lại nặng lời phê phán nạn nhân là Thúy Kiều! Một người nổi tiếng nghiêm khắc ở lời phê phán nàng Kiều là cụ Nguyễn Công Trứ, một khách chơi rất hào hoa trong chốn ca lâu đó. Nếp văn hoá ấy mới giải thích những quy luật kinh tế bên dưới.

Hỏi: Nếu đã vậy, xin ông nói luôn về những quy luật kinh tế này trong hiện tượng buôn người.

Tôi thiển nghĩ là có ba quy luật khả dĩ giải thích được tình trạng đó.

Thứ nhất là quy luật tạm gọi là "ảnh hưởng của ngoại cảnh”, nôm na là những xáo trộn trong môi trường sinh sống ở chung quanh khiến mức sống và nhân phẩm bị phá giá và nhiều gia đình bị đẩy vào chỗ phải có những chọn lựa đau lòng. Khi quá nhiều người phải bán vợ bán con thì những người chung quanh hết thấy rằng việc đó là xấu nữa. Lợi ích kinh tế xoay chuyển ngược chiều với tiêu chuẩn về đạo lý xã hội vì ngoại cảnh. Và  đây là một trách nhiệm lớn của chính quyền trong địa hạt quản lý kinh tế vĩ mô. Sau một trận lũ lụt chẳng hạn, hãy kiểm tra xem nạn bán dâm và buôn người có thể gia tăng ra sao.

Thứ hai là quy luật thông tin bất cân đối. Chúng ta đều biết rằng người bán ít lầm, người mua mới lầm. Người mua ở đây là những người cùng khốn muốn thoát khỏi nghịch cảnh và đành chấp nhận rủi ro và bị bắt bí. Sở dĩ họ bị bắt bí là vì ở vào thế yếu và không có thông tin rõ ràng về quyền hạn của mình, trước tiên là về nhân quyền, một vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam. Thứ nữa là những kẻ bán dịch vụ lao động theo kiểu bất lương đó lại biết rõ mục tiêu, môi trường và đối tác ở nước ngoài nên có lợi thế lường gạt người mua.

Việt Nam đang bán sức lao động tới các nước xa xôi như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia, Saudi Arabia và nhiều xứ Trung Đông khác, nhưng Luật Xuất khẩu Lao động chưa áp dụng và chính sách kiểm soát lỏng lẻo càng đào sâu chênh lệch về loại thông tin của thị trường quái gở này, và tạo cơ hội cho bọn bất lương tung hoành.

Hỏi: Hai quy luật ấy nghe thấy cũng lạ. Thế còn quy luật thứ ba nữa là gì"

Thứ ba là một quy luật khá phổ biến từ kinh nghiệm của ngành bảo hiểm ra, đó là nạn ỷ thế làm liều, mà thuật ngữ kinh tế gọi là "moral hazard". Đó là những kẻ nghĩ mình có gốc lớn hay quan hệ tốt với chính quyền hay cán bộ nhà nước khả dĩ kinh doanh có lời và không bị rủi ro trong những ngành nghề họ biết là bất chính. Thí dụ như trong một đường dây buôn người có sự đỡ đầu của một quan chức cao cấp hay thân tộc của một đồng chí lãnh đạo thì bọn bất lương vẫn yên tâm làm bậy. Họ biết rằng dứt dây thì động rừng, cho nên vì thể thống của chế độ, việc sai quấy của họ cũng sẽ khó bị tố giác hay chấm dứt. Mối lợi của việc sai quấy đó mà được phân chia sòng phẳng thì mọi việc vẫn trót lọt. Và nhiều xứ giàu có cũng đáng quy trách khi không có nỗ lực trừng phạt bọn bất lương đó.

Hỏi: Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam có hy vọng gì thoát khỏi tình trạng ô nhục này chăng"

Tôi nghĩ rằng sẽ có, dù rất chậm và cần tới phản ứng của dư luận. Một thí dụ là nạn buôn phụ nữ dưới dạng hôn nhân giả đã giảm đáng kể với Đài Loan vì chính quyền xứ này có luật lệ kiểm soát khắt khe hơn. Ngược lại, trong năm năm qua, số cô dâu Việt Nam được bán qua Nam Hàn đã tăng gấp đôi. Khi bắt đầu hội nhập với thế giới bên ngoài thì luật lệ của quốc tế và của các nước khác liên hệ tới nạn buôn người cũng khiến Việt Nam phải tuân thủ mà thay đổi dần. Điều đáng buồn là Việt Nam chỉ biết tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của công dân mình khi có sức ép của ngoại quốc. Đây là một nỗi nhục mà dân mình nên nhìn ra, và có phản ứng, thay vì cứ thụ động trước sự bất lực hay bất lương của những người có trách nhiệm.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.