Hôm nay,  

Hồi Phục Mà Thất Nghiệp

10/12/200900:00:00(Xem: 8109)

Hồi Phục Mà Thất Nghiệp

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...tạo thêm chừng 1.300.000 việc làm thì mới giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức cũ...

Hai năm sau trận suy trầm lâu dài và nặng nhất kể từ nhiều thập niên, kinh tế Hoa Kỳ đụng đáy và đang hồi phục rất chậm. Tuy nhiên, tình hình nhân dụng tại Mỹ vẫn thiếu sáng sủa, nhiều người chưa tìm ra việc làm và tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao là 10%. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiện tượng đó qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Tại Hoa Kỳ, mỗi Thứ Sáu đầu tháng, bộ Lao động lại công bố thống kê về tình hình nhân dụng của tháng trước và sau khi đã thấy mức thất nghiệp lên tới 10,20% vào tháng 10, hôm Thứ Năm vừa qua, tức là trước khi bộ Lao động loan báo con số thất nghiệp trong tháng 11, Tổng thống Barack Obama đã có một hội nghị đặc biệt để tìm phương cách giải quyết. Vì mức độ trầm trọng của vấn đề, chúng tôi đề nghị ông trình bày cho bối cảnh vì sao mà kinh tế Mỹ đang có vẻ phục hồi mà tình trạng nhân dụng vẫn chưa khả quan hơn"
Vì sao kinh tế phục hồi mà vẫn bị thất nghiệp cao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ngay từ tháng trước, Tổng thống Obama đã nhìn ra vấn đề và quyết định triệu tập một hội nghị bất thường để tập trung giải quyết một bài toán mà chính quyền của ông thật ra không ngờ được. Chúng ta không quên rằng từ một năm trước, ông Obama đã hứa hẹn khi tranh cử là tạo thêm hai triệu rưởi việc làm trong hai năm nếu mình đắc cử. Sau khi đắc cử, ông nâng mức dự báo là ba triệu việc làm sẽ tạo thêm, rồi ba triệu rưởi, thậm chí bốn triệu, nếu kế hoạch kích thích kinh tế của ông được Quốc hội sớm phê chuẩn....
- Thực tế là kế hoạch trị giá 787 tỷ Mỹ kim được ban hành từ tháng Hai mà tình hình nhân dụng tiếp tục suy đồi, mãi tới tháng trước thì mới có vài dấu hiệu bớt sa sút dù chưa đáng tin và chưa hẳn khả quan và sẽ còn được điều chỉnh. Nếu nhớ lại từ khi kinh tế Mỹ bị suy trầm vào tháng 12 năm kia, tức là cách nay 24 tháng, số thất nghiệp tại Mỹ đã tăng gấp đôi, từ 4,9% lên tới 10% và có thể còn lên tới mức 10,8% đã thấy một lần cách đây hơn hai chục năm, vào tháng 11 năm 1982 dưới thời Tổng thống Ronald Reagan. Và người ta có thể gặp lại hiện tượng gọi là "kinh tế hồi phục mà vẫn không tạo ra việc làm", nói theo Anh ngữ là "jobless recovery".
Việt Long: Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì trước đây ông cũng có nêu nghi vấn về khả năng tạo ra việc làm như vậy. Thông thường thì sau một chu kỳ suy trầm, khi nạn sa sút sản xuất đã tạm dừng và hồi phục lại thì các doanh nghiệp sẽ tuyển thêm người, khiến thất nghiệp sẽ giảm. Thế thì vì sao lại có hiện tượng gọi là "thất nghiệp trong đà hồ phục""
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là về bối cảnh chung thì ta có ba cách nhìn vào vấn đề này. Thứ nhất là về kỹ thuật thống kê, thứ hai là về cơ cấu kinh tế và thứ ba là về tâm lý. Chuyện này hơi rắc rối nên tôi xin được trình bày rõ ràng vì nó cũng liên quan đến phương thức giải quyết, là điều mình sẽ tìm hiểu trong phần cuối của chương trình.
- Trước hết là về kỹ thuật thống kê. Chúng ta có các dữ kiện phản ảnh sinh hoạt kinh tế thực tế mà chỉ được thu thập sau khi xảy ra. Trong các số liệu ấy, có loại thống kê có khả năng tiên báo, tức là giúp ta dự báo trước tình hình tương lai; và có loại thống kê hậu kiểm cho phép xác nhận là dự báo ấy đúng hay sai. Thống kê về nhân dụng, thí dụ như tỷ lệ thất nghiệp, thuộc vào loại hậu kiểm, tức là xảy ra sau. Về thực tế thì sau khi đoán là tương lai có thể khả quan hơn, các doanh nghiệp mới gia tăng sản xuất. Rồi khi yên tâm là sản xuất ra sẽ có lời, doanh nghiệp mới quyết định sẽ tuyển lại hoặc tuyển thêm người. Vì vậy, sinh hoạt kinh tế thường khởi sắc trước, tình hình nhân dụng sau đó mới cải thiện. Đó là lẽ thông thường, và do kỹ thuật thu thập thống kê ta chỉ thấy nạn thất nghiệp bị đẩy lui sau khi kinh tế đã hồi phục trước đó nhiều tháng.
Về thực tế thì sau khi đoán là tương lai có thể khả quan hơn, các doanh nghiệp mới gia tăng sản xuất. Rồi khi yên tâm là sản xuất ra sẽ có lời, doanh nghiệp mới quyết định sẽ tuyển lại hoặc tuyển thêm người. Vì vậy, sinh hoạt kinh tế thường khởi sắc trước, tình hình nhân dụng sau đó mới cải thiện.
Việt Long: Nhưng cũng có trường hợp mà mức cải thiện của thị trường lao động lại không theo cùng nhịp độ hồi phục, dù là trong một khoảng thời gian chậm hơn"
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất có gây ra thất nghiệp
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và đây là một vấn đề khá mới của kinh tế Mỹ.
- Người ta nghiệm thấy là từ gần hai chục năm trở lại, sau mỗi chu kỳ suy trầm thì số người kiếm ra việc làm không tăng cùng nhịp gia tăng sản xuất và thậm chí còn chậm hơn đà gia tăng dân cố. Đó là về cái lẽ thứ hai, thuộc cơ cấu sản xuất. Nguyên do chính mà giới nghiên cứu kinh tế nói tới là cơ cấu sản xuất của kinh tế Hoa Kỳ đã thay đổi về cơ bản, xin tạm gọi là để tiến vào thời kỳ "hậu công nghiệp".
- Ta nhớ lại rằng vào thời lập quốc hơn 200 năm trước, đại đa số lực lượng lao động Hoa Kỳ đều làm việc trong khu vực canh nông để kiếm cho đủ ăn. Thế rồi với tiến bộ khoa học kỹ thuật, giới lao động trong các ngành nông, lâm, ngư và súc sản nay chỉ còn khoảng 0,5% lực lượng lao động, nghĩa là chỉ phân nửa phần trăm thôi. Khi ấy, nông gia không mất việc mà tiến vào khu vực chế biến nhờ Cách mạng Công nghiệp. Bây giờ, khoa học kỹ thuật tiếp tục cải tiến nên cùng một yêu cầu sản xuất người ta cần ít lao động hơn, tức là năng suất có gia tăng. Mà các xứ khác trên thế giới cũng đã công nghiệp hóa nên có thể nhận lãnh công việc chế biến ấy với giá rẻ hơn. Kết quả tổng hợp là hiện tượng toàn cầu hoá giúp doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào những nơi có mức lương rẻ hơn, cho nên thành phần lao động trong khu vực chế biến mới giảm dần. Nhưng, giới lao động trong khu vực ấy không chạy theo công việc làm ra ngoài, hoặc ngồi ở nhà để chịu thất nghiệp. Họ tìm việc làm trong khu vực dịch vụ, ngày nay đã chiếm tới gần 80% của nền kinh tế Mỹ.
- Cho nên thay đổi về cơ cấu sản xuất dẫn tới sự chuyển dịch lao động từ canh nông qua công nghiệp rồi dịch vụ. Từ gần hai chục năm nay, cuộc Cách mạng Tín học lại đảo lộn một lần nữa cơ cấu sản xuất và tác động mạnh nhất vào các ngành nghề trong khu vực dịch vụ, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao hơn. Khi kinh tế bị suy trầm, như trong các năm 90-91 rồi năm 2001, và năm 2008-2009, các doanh nghiệp phải thải bớt người, chủ yếu trong khu vực dịch vụ. Nhân cơ hội đó, doanh nghiệp nâng cao năng suất và cải tổ luôn hệ thống sản xuất nhờ tiến trình tự động hoá với kỹ thuật điện toán và thông tin điện tử. Vì việc cải tổ ấy, khi kinh tế hồi phục, doanh nghiệp lại tuyển ít người hơn trước nên ta mới gặp hiện tượng thất nghiệp cao khi kinh tế đã hồi phục.


Cho nên thay đổi về cơ cấu sản xuất dẫn tới sự chuyển dịch lao động từ canh nông qua công nghiệp rồi dịch vụ. Từ gần hai chục năm nay, Cách mạng Tín học lại đảo lộn một lần nữa cơ cấu sản xuất và tác động mạnh nhất vào khu vực dịch vụ. Khi kinh tế bị suy trầm, các doanh nghiệp phải thải bớt người, chủ yếu trong khu vực đó. Nhân cơ hội ấy doanh nghiệp nâng cao năng suất và cải tổ luôn hệ thống sản xuất. Vì việc cải tổ ấy, khi kinh tế hồi phục, doanh nghiệp lại tuyển ít người hơn trước nên ta mới gặp hiện tượng thất nghiệp cao khi kinh tế đã hồi phục.
Việt Long: Ông có nói đến ba cách nhìn vấn đề, cách thứ ba là tâm lý. Điều ấy có nghĩa là gì"
Tâm lý bất an của thị trường
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta không quên là ngay giữa một chu kỳ suy trầm xảy ra từ cuối năm 2007 sau hơn sáu năm tăng trưởng liên tục, Hoa Kỳ lại bị một vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ ngay giữa một năm có tổng tuyển cử. Khủng hoảng giữa suy trầm trong không khí tranh cử có góp phần gây thêm hốt hoảng vì những báo động liên tục và đầy bi quan của các chính trị gia. 
- Tâm lý bất an rất dễ hiểu của thị trường, kể cả các doanh nghiệp và giới tiêu thụ, lại bị chìm trong một chuỗi dài các kế hoạch vừa kích thích kinh tế vừa cải tạo xã hội của Chính quyền mới đắc cử trong cả Hành pháp lẫn Lập pháp. Kết quả là nỗi ưu lo của mọi người về tương lai trước mặt, với nạn bội chi ngân sách quá cao, gánh nặng công trái cũng sẽ là kỷ lục trong suốt 10 năm tới và gánh nặng thuế khóa cũng sẽ tăng.Vì vậy, tín dụng vẫn ách tắc, tư doanh chưa tuyển thêm người và còn lo rằng kinh tế hồi phục yếu ớt có thể sẽ lại bị suy trầm nữa, là chuyện có thể xảy ra nếu ta theo dõi sự suy sụp thị trường bất động sản thương mại. Hôm Thứ Hai mùng bảy vừa rồi, Thống đốc hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ cũng phát biểu là đà hồi phục của kinh tế Mỹ còn gặp nhiều trở lực. Ngần ấy lý do khiến giới kinh tế dự đoán là phải mất nhiều năm nữa thì mức thất nghiệp mới trở lại tỷ lệ dưới 5% như đã thấy trước kỳ suy trầm, vào năm 2007.
Kết quả là nỗi ưu lo của mọi người về tương lai trước mặt, với nạn bội chi ngân sách quá cao, gánh nặng công trái cũng sẽ là kỷ lục trong suốt 10 năm tới và gánh nặng thuế khóa cũng sẽ tăng.
Việt Long: Thế Chính quyền của Tổng thống Obama có dự đoán hay đã nhìn ra sự thể này hay không và có nỗ lực gì để ứng phó hay chưa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Từ cả năm nay - trước và sau khi đắc cử - ban tham mưu kinh tế của ông Obama đã liên tục đoán nhầm. Nguyên nhân chính có thể là yếu tố thứ ba, thuộc về tâm lý bất an của thị trường, như chúng ta vừa trình bày ở trên.
- Khi ông Obama đắc cử, lực lượng lao động tại Mỹ có được 135 triệu việc làm, với tỷ lệ thất nghiệp là 7%. Khi ấy, Chính quyền của ông đặt ra chỉ tiêu là tạo thêm chừng ba triệu rưởi việc làm tính đến cuối năm tới, là tháng 12 năm 2010, Tức là nâng lực lượng lao động lên mức 138 triệu sáu. Ngày nay, vào tháng 11 vừa qua, lực lượng lao động thực tế chỉ còn 131 triệu việc làm. Tức là còn có 13 tháng để tạo thêm chừng bảy triệu 600.000 việc, bình quân là hơn 58 vạn việc mỗi tháng. Một kỷ lục để so sánh là khả năng tạo ra việc làm sau trận suy trầm nặng nề thời Ronald Reagan là 40 vạn việc một tháng trong 13 tháng liền. Đã thế, hàng năm, với đà gia tăng dân số bình thường thì kinh tế Mỹ phải tự động tạo thêm chừng 1.300.000 việc làm thì mới giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức cũ. Nói cho dễ nhớ thì bình quân phải hơn 10 vạn việc làm một tháng.
- Nhìn như vậy ta thấy ra mức độ nan giải của bài toán và điều ấy cũng phần nào giải thích vì sao tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Obama đã sa sút rất nhanh, nay chỉ còn 49% và tỷ lệ bất mãn của dân chúng về Quốc hội trong tay đảng Dân Chủ đã vượt 64%, chỉ còn 27% tin tưởng.
Việt Long: Thế chẳng lẽ là kế hoạch kích cầu trị giá 787 tỷ đô la do Quốc hội phê chuẩn và Tổng thống Obama ban hành lại không có công hiệu gì trong mục tiêu tạo ra việc làm hay sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước khi nhậm chức và đề ra chỉ tiêu là sẽ tạo ra ba triệu rưởi việc làm, ông Obama nhấn mạnh là 90% việc làm ấy sẽ đến từ khu vực tư doanh. Nhưng kế hoạch kích cầu trị giá 787 tỷ lại đạt kết quả trái ngược vì lấy nguồn tài trợ qua tăng chi. Khi tăng chi ngân sách, chính phủ phải đi vay. Mà vay tiền trên thị trường tài chính thì cũng là vét bớt tài nguyên có thể được tư doanh sử dụng để đầu tư, nhờ đó mà tạo thêm việc làm. Và khi phân phối tiền kích thích sản xuất thì lại không rót vào những nơi mau chóng tạo ra việc làm của tư doanh.
Nhưng kế hoạch kích cầu trị giá 787 tỷ lại đạt kết quả trái ngược vì lấy nguồn tài trợ qua tăng chi. Khi tăng chi ngân sách, chính phủ phải đi vay. Mà vay tiền trên thị trường tài chính thì cũng là vét bớt tài nguyên có thể được tư doanh sử dụng để đầu tư, nhờ đó mà tạo thêm việc làm. Và khi phân phối tiền kích thích sản xuất thì lại không rót vào những nơi mau chóng tạo ra việc làm của tư doanh.
Việt Long: Rút kinh nghiệm từ những gì đã thấy trong một năm vừa qua, Chính quyền Hoa Kỳ có thể làm được những gì để nếu không đạt chỉ tiêu dù sao vẫn là quá cao thì cũng giảm bớt được mức thất nghiệp trong những năm tới"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta vừa nói đến chỉ tiêu là tạo ra chừng 58 vạn việc làm mỗi tháng trong suốt 13 tháng tới. Nếu so với kỷ lục là 40 vạn một tháng vào năm 1984 thì quả là khó. Nhưng 25 năm trước, thị trường lao động Mỹ chỉ có chừng 110 triệu người so với hơn 155 triệu ngày nay cho nên đây là bài toán khó, nhưng không là bất khả. Vấn đề là phải khôi phục lại niềm tin của doanh nghiệp về triển vọng làm ăn và tuyển người.
Khi kinh tế đã hồi phục, thất nghiệp đã giảm, may ra người dân sẽ hết e ngại mà chấp nhận những chương trình cải tạo xã hội ông Obama đang muốn tiến hành. Nếu không cấp bách giải quyết ưu tiên đó, ông Obama sẽ thất bại trên cả hai mặt là kích thích sản xuất và cải tạo xã hội.
- Cụ thể là cần khai thông ách tắc hành chánh, tiết giảm công chi và đẩy lui mối lo về gánh nặng thuế khoá để khuyến khích đầu tư và sản xuất. Những biện pháp ấy mới là ưu tiên để nâng mức tăng trưởng và sớm tạo thêm việc làm. Khi kinh tế đã hồi phục, thất nghiệp đã giảm, may ra người dân sẽ hết e ngại mà chấp nhận những chương trình cải tạo xã hội ông Obama đang muốn tiến hành. Nếu không cấp bách giải quyết ưu tiên đó, ông Obama sẽ thất bại trên cả hai mặt là kích thích sản xuất và cải tạo xã hội.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.