Hôm nay,  

Thiên Thần Khuất Bóng

03/06/200800:00:00(Xem: 8818)

Irena Sendler (1910-2008)

Một vị thiên thần vừa khuất bóng. Một ngôi sao chợt tắt. Ba Lan vừa mất một người con yêu dấu. Thế giới vừa mất một nét đẹp tân kỳ.

Ba Lan là nước gặp nhiều bất hạnh nhất trong cuộc Thế giới đại chiến thứ II. Và những nổi đau khổ của dân tộc này còn bị lịch sử xuyên tạc suốt nửa hậu bán thế kỷ 20 bởi chính bàn tay và khối óc của chính quyền cộng sản Ba Lan do Liên bang Xô viết (nay là Liên bang Nga) dựng nên.

Trại hơi độc Auschwitz do Đức quốc xã dựng nên để giết người Ba Lan gốc Do thái được gọi là “Trại Tử thần Ba Lan”, và qua bộ máy tuyên truyền của quốc tế cộng sản, thế giới vẫn lầm tưởng rằng người Ba Lan dững dưng trước cuộc tàn sát người Ba Lan gốc Do thái do bàn tay Đức quốc xã.

Cựu lãnh tụ Do Thái Yitzhak Shamir từng tuyên bố một cách thiếu trách nhiệm, “người Ba Lan căm thù người Do Thái từ trong huyết mạch.”

Thế giới hiểu lầm từ trước chiến tranh, nhưng người Ba Lan vốn vô tâm không lên tiếng vì họ biết họ không kỳ thị người gốc Do Thái.

Một trong những người từng hy sinh tính mạng cứu người Do Thái trong chiến tranh là bà Irena Sendler. Bà là con gái cưng của một bác sĩ y khoa, gia đình có truyền thống bất khuất và thương người. Ông cố nội của bà từng bị đày lên Tây bá lợi á. Cha của bà chết vì bệnh sốt rét cấp tính do săn sóc bệnh nhân gốc Do Thái mà các bác sĩ khác từ chối săn sóc sợ lây bệnh.

Trước chiến tranh, Ba Lan bị áp lực Đức quốc xã, đại học Warsaw áp dụng chính sách kỳ thị. Là sinh viên văn khoa tại đó bà Sendler chống chính sách kỳ thị của nhà trường và gặp nhiều khó khăn.

Một lần thấy sinh viên Quốc xã Ba Lan đánh đập vô cớ một sinh viên gốc Do Thái bà Sendler đã xé thẻ sinh viên của bà để phản đối, và bà bị nhà trường đuổi học học trong 3 năm.

Mẹ bà Sendler có thể cho bà tiếp tục học hành nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng Do Thái. Bà gia nhập đảng Xã hội do chủ trương thương người chứ không vì lập trường chính trị hay do ảnh hưởng của tôn giáo.

Năm 1939 Hitler chiếm Ba Lan. 400.000 người gốc Do Thái bị tập trung vào trong một khu ghetto riêng biệt rộng chừng 4 cây số vuông tại Warsaw, bị đối đãi tàn tệ, có thể bị lính Đức xử bắn vì bất cứ lý do gì, và về sau được chuyển dần về trại Treblinka để giết chết ở đó. Điều kiện sống trong trại thiếu vệ sinh, thức ăn giới hạn 2 kg bánh mì mỗi tháng cho mỗi người làm cho bệnh sốt rét hoành hành đôi khi giết chết cả lính Đức coi trại nên nhà cầm quyền Đức cho phép những người làm việc xã hội như bà Sendler vào phát thuốc và chủng ngừa chống bệnh.

Nhờ ra vào khu ghetto bà Sendler đã cứu được nhiều trẻ em Do Thái, hơn cả số người do nhà đạo diễn được giải Oscar Schindler cứu mà thế giới ai cũng biết. Công việc của bà Sendler  hết sức nguy hiểm vì nếu bị phát giác bà có thể bị bắn. Bà dùng xe truck hoặc xe tram chở nhân sự và dụng cụ làm công tác nhân đạo lén chở các em trốn trại. Có khi bà dẫn các em len lỏi qua các ngõ ngách của các ngôi nhà hoang phế chung quanh khu tập trung để trốn ra ngoài. Để cứu một em bé bà Sindler phải huy động ít nhất 12 người bí mật làm việc với nhau: tài xế lái xe, linh mục cấp giấy khai sinh giả, công chức cấp hộ khẩu và thẻ thực phẩm, và gia đình bảo bọc các em. Những người này đều biết rằng nếu bị phát giác họ sẽ bị xử bắn tại hiện trường .

Bà Sendler không quên ghi lại lai lịch của các em để sau này chúng truy nguyên ra gốc gác gia đình. Bà ghi tên tuổi của chúng trên những cuộn giấy vệ sinh để cạnh giường ngủ, dự phòng vất qua cửa sổ nếu công an Đức soát nhà. Có lần bà bị công an Đức bắt, nhưng bà đã kịp chuyển tài liệu ghi tung tích các em cho một người bạn dấu trong nách. Bị tra tấn dữ dội bà cắn răng chịu đựng, và công an Đức tưởng bà chỉ là nhân vật phụ. Đường giây của bà đút lót công an và bà thoát bị xử bắn. Ra tù bà dấu tên tuổi các em trong một cái chai chôn kỹ. Phần bà, bà đổi danh tánh và sống lẫn trốn công an Đức cho đến khi chiến tranh chấm dứt .

Sau chiến tranh nghe ai nhắc đến công đức bà Sendler thường phàn nàn rằng: “Tôi hối hận đã chưa làm hết sức mình.”  Bà cho mình là một người con gái chưa trọn đạo với mẹ đã để cho mẹ phải làm việc cực nhọc trong suốt thời chiến tranh, không làm tròn nhiệm vụ đối với hai người chồng và không làm tròn chức năng một bà mẹ đối với con gái. Sau năm 1945 bà Sendler bận rộn công việc trong những nhà giữ trẻ không có thì giờ săn sóc con gái đến nổi con gái bà phải xin vào ở nhà trẻ mồ côi để được gần gũi bà .

Trước khi chiến tranh chấm dứt bà Sendler tham gia kháng chiến chống Đức. Sau chiến tranh chính phủ cộng sản Ba Lan cho hành động kháng chiến và việc giúp giải thoát cho một số trẻ em Do Thái của bà đều là công tác của chính phủ lưu vong Ba Lan thành lập tại Luân Đôn và là tay sai của đế quốc. Bà Sendler bị công an Ba Lan thẩm vấn từ năm 1945 đến năm 1948 đến nổi hư thai. Đứa con thứ hai của bà bị sinh thiếu tháng và chết. Bà bị cấm di chuyển khỏi thủ đô Warsaw. Con gái bà không được học đại học. Con gái thường hỏi bà: “Mẹ phạm tội gì hỡ mẹ”.

Mãi đến năm 1983 chính phủ cộng sản Ba Lan mới cho phép bà đi Jerusalem, tại đó những em bé ngày xưa bây giờ đến tuổi trung niên đã trồng một cây kỷ niệm tại Yad Vashem để ghi nhớ ơn bà. Bà Sendler đã cung cấp các thông tin cần thiết để các em truy tìm cha mẹ và thân nhân mà đa số đều bị giết chết .

Năm 2003 chính phủ dân chủ Ba Lan chính thức công nhận công ơn của bà đối với quốc gia và trao tặng bà huy chương “Con Ó Trắng” (White Eagle) cao quý nhất của Ba Lan .

Bà Sendler từ bỏ đất nước thân yêu của bà ngày 12/5/2008, hưởng thọ 98 tuổi. Một ánh sao băng trên bầu trời chợt tắc. Một nữ thiên thần vừa khuất bóng.

Trần Bình Nam

(thuật theo Cáo Phó)

June 2, 2008

The Economist số ngày May 24th – 30th 2008

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.