Hôm nay,  

10 Vấn Nạn Cho Quê Hương

10/02/200900:00:00(Xem: 9175)

“Bài học nặng ký”: Mang bạc triệu về VN đầu tư và...Chào Thua! (II)
10 VẤN NẠN CHO QUÊ HƯƠNG

Bài của Anderson Thai Quang

Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ  từng  mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và... chào thua. Việt Báo trân trọng giới thiệu những "bài học nặng ký" mà nhà triệu phú 39 tuổi đã "mua được với giá rẻ."

Trước khi về lại Mỹ, trong một bữa tiệc chia tay tất niên, một người bạn trẻ chưa bao giờ sống ở nước ngoài, nhờ tôi tóm lược những kinh nghiệm cá nhân, những nhận xét về xã hội này, cũng như những vấn nạn mà thế hệ sắp tới của Việt Nam phải đương đầu. Tôi nhận lời và xin bắt đầu bằng… 
BÀI HỌC LỊCH SỬ
Năm 1945, đảng Cộng Sản cướp chánh quyền và bắt đầu một cuộc chiến tranh dành độc lập chống thực dân Pháp. Người Việt anh hùng, mưu mô và kiên nhẫn, với sự trợ giúp nhiệt tình của Trung Quốc, đã chiến thắng sau 9 năm gian khổ và 1 triệu người hy sinh. Sau đó, nhận lãnh "nghĩa vụ quốc tế" của Cộng Sản Đệ Tam, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bắt đầu và kết thúc vào năm 1975 với sự sụp đổ của Saigon. Sau 20 năm chinh chiến, thêm 2.2 triệu người đã hi sinh; và đảng Cộng Sản cũng như phần lớn dân Việt đã kiêu hãnh với chiến thắng và tự nhận làm "đỉnh cao cho trí tuệ của loài người".
Thế nhưng một câu hỏi mà các nhà lãnh đạo của xứ ta không bao giờ trả lời thoả đáng được là, "tại sao các nước láng giềng như Singapore, An Độ, Mã Lai, Indonesia… cũng bị thực dân xâm chiếm mà họ lại dành được độc lập không cần phải chiến tranh"". Vào năm 1945, Việt Nam có số thu nhập mỗi đầu người ngang hàng với Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông… vào năm 1975, ta tụt hậu và số thu nhập trên chỉ ngang hàng với Thái Lan, Indonesia. Sau 63 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và sau 30 năm thanh bình xây dựng đất nước, vào năm 2008, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) tính là Việt Nam sẽ chỉ bắt kịp mức sống hiện tại của Thái Lan trong 95 năm nữa và của Singapore trong 152 năm nữa. Tại sao các láng giềng của ta lại may mắn đến như vậy" Không phải chúng ta là những người khôn ngoan, dũng cảm và thông minh nhất khu vực sao"
Năm 1945, chánh phủ DeGaulle của Pháp đề nghị một giải pháp hoà bình với Việt Minh nằm trong Liên Hiệp Pháp. Đảng từ chối và khởi động một chánh sách "tiêu thổ kháng chiến", có nghĩa là đốt phá hết nhà cửa và tài sản của dân. (Thiệt hai cho Pháp thì không rõ, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân Việt thì rất khắc nghiệt). Thế lực ngoại bang nào đã bắt chánh phủ mình gây chiến" Năm 1960, chánh phủ Saigon (bị lên án là do Mỹ giựt dây) đề nghị một miền Nam trung lập và độc lập phi chủ nghĩa. Thế lực ngoại bang nào đã bắt chánh phủ miền Bắc phải bác bỏ và tiếp tục chiến tranh" Đây là những câu hỏi cho các sử gia, tôi không dám lạm bàn. Nhưng các câu hỏi tối thiểu này phải được đặt ra vì cái nghèo khó khổ cực hiện nay bất nguồn rất nhiều từ các quyết định của các cấp lãnh đạo cộng sản.
Nhìn qua tổng thể của lịch sử 60 năm qua là nhận ro cái trách nhiệm đã khiến Việt Nam trở thành một trò cười của nhân loại và một tủi nhục cho những công dân của xứ này khi ra nước ngoài.
1. VẤN NẠN CĂN BẢN:
ĐẢNG CỘNG SẢN
Căn bản của chủ thuyết Mác Lê là tái phân chia tài sản để san bằng mọi bất công giàu nghèo của xã hội. Lý thuyết là thế, nhưng nhìn chung các xã hội theo Công Sản bao giờ cũng có một tầng lớp cai trị (gọi là đầy tớ nhân dân) với rất nhiều đặc quyền và lợi lộc hơn cả các vua chúa quan lại ngày xưa. Vài nước như Bắc Triều Tiên lại đi theo chế độ "cha truyền con nối", hay Cuba "anh để lại cho em", hay Trung Quốc (Mao trao quyền cho vợ bé, Giang Thanh).
Khi còn tranh đấu để cướp chánh quyền, họ luôn luôn nêu cao lòng yêu nước và chống chế độ phong kiến thực dân để thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Chỉ sau khi nắm được quyền lực, họ mới bắt đầu chánh sách "đấu tố địa chủ", "tich thu tài sản", "quốc hữu hoá ruộng đất"… thay vì từ xã hội phong kiến tiến lên tư bản và thành Cộng Sản như lý thuyết Mác Lê; họ thực tình quay ngược chiều, trở về xã hội phong kiến, với tất cả các đặc tính chuyên chế độc tài. Không những giai cấp lãnh đạo, từ trung ương đến xã huyện, vui hưởng quyền lực, con cái họ hàng cũng được chia xẻ bổng lộc như các triều đại vua chúa.
Trong một thế giới phẳng phiu của chủ nghĩa toàn cầu, chế độ phong kiến chứa đựng nhiều nghịch lý sẽ không sao giải quyết được bất cứ vấn đề nào của xã hội tân tiến. Lấy một cỗ xe ngựa chạy trên một xa lộ gia tốc thì không thể nào chạy kịp với trào lưu.

Đó là lý do chính tại sao Liên Bang Xô Viết và Đông Au, nguồn cội của Mác Lê, phải tan rã và đảng Cộng Sản bị chôn vùi. Với hệ thống công an tinh vi và một dân trí thấp kém hơn, đảng Cộng Sản Tàu, Việt, Bắc Triều Tiên và Cuba còn níu kéo được quyền lực. Nhưng ngày nào mà chế độ cộng sản phong kiến còn ngự trị ở những nơi này, ngày đó sẽ không thể có tiến bộ về chánh trị, kinh tế, xã hội hay dân trí. Ngày nào mà cơ cấu chánh trị còn bị đè nặng bởi một nhóm lãnh đạo lỗi thời, ngày đó Việt Nam không thể có tiến bộ hay sáng tạo để bắt kịp các láng giềng.
Tất cả những vấn nạn khác của Việt Nam đều có gốc rễ từ vấn nạn căn bản nói trên. Mọi cố gắng thay đổi, điều chỉnh đều có thể làm tốt hơn; nhưng không thể có hiệu năng đột phá nếu không giải quyết vấn đề cơ bản là sự độc quyền cai trị của Đảng Cộng Sản.
Tôi không nghĩ là xã hội và dân tộc Việt chỉ có 10 vấn nạn. Nhưng sắp xếp theo chủ quan, tôi thấy sau đây là 9 vấn đề cấp bách mà Việt Nam phải đối phó để còn một tương lai sáng sủa hơn cho thế hệ kế tiếp: tư cách và dân trí (character and collective knowledge); tham nhũng (corruption); bất công xã hội (social inequality); các công ty quốc doanh (state-owned enterprises); giáo dục (education); môi trường (environment); sức khoẻ cộng đồng (health care); mạng lưới hạ tầng (infrastructure); và vấn đề đô thị hoá (urbanization).
2. TƯ CÁCH VÀ DÂN TRÍ
(Không ai quên được sự thực; họ chỉ nói dối một cách thành thạo hơn)
Sau 63 năm dưới chế độ Cộng Sản và 30 năm trong chiến tranh Pháp-Mỹ, con người Việt Nam biến thể rất nhiều, so với thời Khổng Mạnh lúc xưa và những ảnh hưởng sau đó của văn minh Tây Phương. Phần thì bị bịt kín không thông tin liên lạc với thế giới bên ngoài, phần thì phải lo sinh tồn trong một cuộc chiến khốc liệt và trong tai mắt khắp nơi của bộ máy cảnh sát công an; tư cách của người Việt đã hoàn toàn thay đổi, khác hẳn với các dân tộc tự do khác. Vì nằm trong hệ thống Cộng Sản, họ xử thế rất giống với người Tàu hay người Nga hay người Bắc Triều Tiên.
Để tồn tại, bệnh giả dối bịp bợm là chỉ nam hàng đầu (dĩ nhiên, họ học hỏi rất nhiều ở tầng lớp lãnh đạo). Các đặc tính khác phát sinh từ chế độ chánh trị Cộng Sản gồm có bệnh hình thức (nói nhưng không làm), bệnh ích kỷ (bất cứ ích lợi gì cho ta và gia đình mà thôi), bệnh manh múng (làm đủ mọi cách để lách léo và tìm mối lợi), bệnh mặc cảm (vì biết mình yếu kém nên hay nổ bậy), bệnh quậy phá (cho đỡ những áp lực dồn nén  từ một cuộc sống nghèo hèn), bệnh làm ẩu (thành công thì ta hưởng, thất bại thì thiên hạ chịu), bệnh ngắn hạn (không ai có tầm nhìn dài hạn vì cá nhân không có tương lai bảo đảm) và bệnh quan liêu (không lạ gì khi sống trong một xã hội phong kiến).
Về tư cách xấu tốt còn để lại từ truyền thống thì người Việt ta có bệnh sĩ diện (từ văn hoá Trung Quốc), bệnh ham chơi ăn nhậu (từ văn hoá Pháp), bệnh thiếu sáng tạo (do nền giáo dục khoa bảng không thực tế của Tàu và Pháp). Những đức tính tốt là tính ham học, lòng can đảm, liên hệ sâu đậm với gia đình, quê hương, sự tận tuỵ với công việc của cá nhân, sự chịu đựng và thích ứng với mọi hoàn cảnh, tinh thần cầu tiến và lòng kiên nhẫn vô bờ.
Dân trí (collective knowledge) là một yếu tố khác đã bị sự bưng bít che đậy của chế độ làm người dân trở thành mê muội với những kiến thức một chiều, lỗi thời và thua kém. Chỉ những năm gần đây, dù còn  là một thiểu số không đáng kể, người Việt mới có cơ hội đi lại các quốc gia đã phát triển để thấy một cuộc sống hoàn toàn trái ngược với những tuyên truyền bịp bợm của bộ máy nhà nước. Vua Tần ngày xưa tuyên bố rằng "dân ngu thì dễ dạy". Những người Cộng Sản bây giờ đã khôn ngoan áp dụng triệt để chánh sách này.
Nói tóm lại, nếu không có những tư cách xấu phát nguồn từ thể chế chánh trị, thì người Việt có đủ tư cách và dân trí để phấn đấu thành công trên mọi lãnh vực so với các quốc gia láng giềng. Bằng chứng hiển nhiên là khi ra khỏi Việt Nam, các Việt Kiều đã đạt những thành quả rất đáng khâm phục và bắt kịp mọi cộng đồng thiểu số trên khắp thế giới. Ngân hàng thế giới cho là phải mất 152 năm, Việt Nam mới bắt kịp Singapore về mức thu nhập. Nhưng nếu chế độ Cộng Sản còn tồn tại, thì phải mất đến 300 năm, Việt Nam mới bắt kịp Singapore về tư cách con người.
Kỳ tới: Tham Nhũng mỗi năm 6 tỉ đô.
Anderson Thai Quang

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.