Hôm nay,  

Viết Lại Lịch Sử

23/03/201000:00:00(Xem: 11225)

Viết Lại Lịch Sử
Vũ Linh

...cuối trào Bush, đã có ba cuộc khủng hoảng lớn: gia cư, ngân hàng và kinh tế...

Cách đây ít tuần, bà phụ tá Valerie Jarrett được tuần báo Newsweek phỏng vấn. Bà Jarrett là một trong “tứ trụ triều đình” (cùng với quân sư David Axelrod, phát ngôn viên Robert Gibbs, và Chánh Văn Phòng Rahm Emanuel), bạn chí thân của TT Obama từ mấy chục năm qua tại đất Chicago khét lẹt. Biết sẽ phải trả lời nhiều câu hỏi về thành quả năm qua của TT Obama nên ngay từ đầu, bà Jarrett đã rào đón “Look, we inherited a mess”, tạm dịch là “Này nhé, chúng tôi đã hưởng một gia tài rối tung”.
Gần đây, cựu quân sư của Bush là Karl Rove xuất bản hồi ký về tám năm cầm quyền của Bush. Ông Paul Begala, cựu phụ tá của TT Clinton, hiện là bình luận gia cho đài truyền hình CNN, viết ngay một bài phân tích và chỉ trích sách của ông Rove chỉ là 500 trang nói láo. Begala đả kích Bush đã vung phí thặng dư ngân sách của Clinton để lại khiến nước Mỹ mang nợ, là thủ phạm trong các khủng hoảng gia cư và ngân hàng, đẩy kinh tế xuống hố, nói láo về vụ Iraq, không để ý đến những cảnh giác về khủng bố khiến xẩy ra vụ 9/11 mà đáng lẽ ra đã có thể tránh được.
Câu nói của bà Jarrett không có gì lạ, và lập luận của ông Begala cũng rập khuôn theo quan điểm cấp tiến, thiên tả. Tất cả chung quy là tại Bush hết. Hơn một năm sau khi nhậm chức, TT Obama và các phụ tá vẫn còn ca bài đổ thừa lên đầu Bush. Vấn đề là đa số dân Mỹ cũng biết Bush để lại một gia tài không mấy tốt đẹp và do đó họ mới bầu Obama lên để dọn dẹp, để “thay đổi”, vì tin ở lời hứa ông sẽ giải quyết mọi chuyện, chứ không phải bầu một người chẳng biết làm gì hơn là ngồi than vãn tháng này qua năm nọ. Nếu Bush không làm những sai lầm to lớn khiến dân Mỹ chán ghét thì làm sao Obama được bầu" Đúng ra, Obama phải cám ơn Bush thay vì chỉ trích Bush. Hay là Obama oán Bush vì đã không hưởng được cảnh ngồi mát ăn bát vàng"
Sự thật nước Mỹ là một nước lớn, với thật nhiều vấn đề rắc rối, hết chuyện này đến chuyện khác, liên miên bất tận, và tất cả các tổng thống từ xưa đến nay, đều hưởng một gia tài đầy chuyện nhức đầu. Từ Lincoln vừa lên đã lãnh ngay cuộc nội chiến, đến Roosevelt nhậm chức trong cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ đại. Gần đây hơn, Kennedy thừa hưởng cuộc chiến tranh lạnh và dàn hỏa tiễn nguyên tử tại Cuba cách Miami một trăm dặm. Johnson thừa hưởng chiến tranh và khủng hoảng chính trị ở Việt Nam và cuộc tranh đấu dành dân quyền của dân da đen. Nixon lãnh cuộc chiến Việt Nam và một nước Mỹ phân hóa cùng cực. Carter lãnh gia tài Watergate khiến dân Mỹ mất hết tin tưởng vào chính quyền. Reagan nhận được một nước Mỹ sa sút trên mọi lãnh vực, từ kinh tế đến ngoại giao. Ngay cả TT Bush 43 cũng thừa hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế sau khi thị trường chứng khoán rớt gần 60% năm 2000 vào cuối trào Clinton....
Dĩ nhiên là dân Mỹ đã nghe đủ kiểu tố giác các vị tổng thống tiền nhiệm trong mùa tranh cử. Nhưng sau khi tổng thống mới nhậm chức thì những chuyện xỉa tay đổ thừa hầu như chấm dứt. Các tân tổng thống bắt tay vào việc, giải quyết các chuyện rắc rối. Duy chỉ có TT Obama thì hơn một năm sau, vẫn ngồi than vãn và đổ thừa.
Và điều đáng nói hơn nữa là những lời cáo buộc về Bush phần lớn không có căn bản nghiêm chỉnh. Ông Begala tố TT Bush đã không ngăn ngừa được cuộc tấn công 9/11, đã nói láo để có lý do đánh Iraq, làm tan nát kinh tế Mỹ qua các khủng hoảng gia cư, ngân hàng, và để lại một hố thâm thủng ngân sách vĩ đại. Ta hãy thử khách quan nhìn lại mấy vấn đề này.
VỤ TẤN CÔNG 9/11
Ông Begala khẳng định nếu Bush chú tâm hơn thì đã có thể ngăn ngừa được cuộc tấn công 9/11. Trong tất cả các lời chỉ trích Bush, đây là lời chỉ trích thiếu lương thiện nhất. Không ai biết trước được cuộc tấn công đó, hay ngăn ngừa được nó.
Hệ thống an ninh tình báo mà TT Bush thừa hưởng là một cơ chế bết bát cùng cực, vô tổ chức, với ít nhất là hai tá cơ quan cùng chung trách nhiệm mà chỉ lo tranh công móc giò nhau chứ không có hợp tác, chia sẻ tin tức với nhau. Đây thật ra là gia tài của cả mấy đời tổng thống để lại.
Nếu thật sự phải nói đến vấn đề trách nhiệm thì những người có trách nhiệm lớn nhất làm tê liệt các cơ quan an ninh tình báo là các thượng nghị sĩ Dân Chủ, đứng đầu là Frank Church, từ dưới thời Nixon đã truy tố các hoạt động của CIA và giới hạn tối đa các hoạt động này. Rồi đến các TT Carter và Clinton khi họ cắt giảm ngân sách và cấm không cho CIA và FBI dùng những thành phần “bất hảo” làm nguồn tin hay gián điệp, cắt đứt phần lớn nguồn cung cấp tin từ nhân sự, mà chỉ có thể trông cậy vào các nguồn kỹ thuật qua máy móc như computer, internet, điện thoại, phi cơ thám thính.... Những phương tiện này có thể hữu hiệu ở Mỹ, nhưng khi Osama Bin Laden chui vào hang núi, không sử dụng điện thoại hay email, thì Mỹ đành bó tay, tám năm truy lùng cũng không tìm được dấu vết.
Dựa trên lập luận của ông Begala, thì ta có thể đặt câu hỏi nếu vụ 9/11 xẩy ra là do Bush bất tài bất cẩn, thì vụ đánh bom hai cao ốc World Trade Center ở Nữu Ước năm 1993 dưới thời Clinton thì có phải là do Clinton -và ông phụ tá Begala- bất tài và bất cẩn không" Và hầu hết các đặc công cảm tử Hồi giáo trong vụ 9/11 đều đã sống ở Mỹ, học lái máy bay từ thời TT Clinton, sao họ không bị khám phá và bắt ngay từ lúc đó" TT Clinton -và Begala- có tám năm để ngăn chận khủng bố trong khi TT Bush có tám tháng để ngăn ngừa vụ 9/11.
Cái công lớn của Bush là cải tổ toàn diện tổ chức an ninh và bảo đảm nước Mỹ được an toàn cho đến ngày nay. TT Obama cần ghi nhận công lao của Bush đã để lại cho ông một hệ thống an ninh hoàn hảo hơn. Nhưng đòi hỏi sự công nhận như vậy là quá đáng!
CUỘC CHIẾN IRAQ
Sau vụ tấn công 9/11, cả nước Mỹ, từ dân chúng đến cấp lãnh đạo hai đảng và cả truyền thông, hầu như mất tỉnh táo, hoảng sợ trước sự bất lực của tổ chức an ninh Mỹ (không có khả năng ngăn cản được quân khủng bố). Al Qaeda là một đe dọa, nhưng Saddam Hussein cũng nguy hiểm không kém. Lãnh tụ Iraq không bỏ lỡ dịp nào để hăm dọa đánh Mỹ. Mà ông này lại dường như có vũ khí giết người tập thể cực kỳ nguy hiểm. Chỉ cần một trái bom “bẩn”, tức là bom nguyên tử bỏ túi hay một trái bom vi khuẩn gì đó, thả ngay trung tâm Nữu Ước là có thể giết được hàng trăm ngàn người. Trong khi đó, tất cả tin tức tình báo Mỹ, Do Thái, Anh, Pháp, Đức, Nga, Ả Rập đều chắc nịch là Saddam có những vũ khí đó và sẵn sàng sử dụng.


Cựu TT Clinton tuyên bố năm 1998: “Cộng đồng thế giới có thể sẽ thấy càng ngày càng nhiều những đe dọa kiểu Iraq ngày nay: một nước ngông cuồng với vũ khí giết người tập thể, sẵn sàng sử dụng hay cung cấp cho các tổ chức khủng bố những vũ khí đó. Nếu chúng ta không có biện pháp đáp ứng bây giờ, Saddam và tất cả những tên muốn theo bước chân của ông ta sẽ cảm thấy mạnh dạn hơn trong tương lai.” Nói thì oai, nhưng TT Clinton chẳng dám làm gì, dù đã được thỉnh nguyện thư của rất nhiều nhân vật của cả hai đảng, kể cả những nhân vậy sau này chửi ông Bush là nói láo!
Không một tổng thống hay chính khách Mỹ nào trong thời điểm đó có thể khoanh tay ngồi chờ Saddam thả bom “bẩn” rồi mới hành động. Ta thử tưởng tượng mà chuyện đó xẩy ra thì Bush sẽ có tội cỡ nào và sẽ bị đã kích tới đâu" Khi TT Bush - sau khi cảnh cáo Saddam cả chục lần, và sau khi Saddam phớt lờ cả chục quyết nghị của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc - quyết định đánh Saddam để loại trừ mối đe dọa lớn này, thì cả Thượng viện lẫn Hạ viện đều ủng hộ quyết định của ông, kể cả các thượng nghị sĩ Dân Chủ Hillary Clinton, John Kerry, và Joe Biden. Quyết định đó cũng được cựu TT Clinton hoan nghênh.
Ta cũng cần biết là cả TT Bush lẫn các lãnh tụ lưỡng đảng tại Thượng và Hạ viện đều nhận được cùng một báo cáo về tình hình an ninh. Các báo cáo định kỳ này do Giám Đốc CIA George Tenet soạn thảo, và ông Tenet là người được TT Clinton bổ nhiệm chứ không phải là “đàn em” của Bush, thông đồng với Bush đánh lừa Quốc hội. Muốn biết thêm quan điểm của các lãnh tụ Dân Chủ về vấn đề Iraq dưới thời TT Clinton, tức là trước khi Bush có dịp “nói láo”, xin xem:
http://www.rightwingnews.com/quotes/demsonwmds.php
Đánh Iraq là một quyết định sai lầm vì dựa trên tin tức sai lầm của tình báo, không phải vì TT Bush cố tình “nói láo”.
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
Phải nói ngay là cuối trào Bush, đã có ba cuộc khủng hoảng lớn: gia cư, ngân hàng và kinh tế. Nhưng tựu chung, cả ba cuộc khủng hoảng thực sự chỉ là một: khủng hoảng gia cư đưa đến khó khăn cho ngân hàng với hàng ngàn nợ mua nhà không thanh toán, tạo ra tình trạng xiết nợ dẫn đến suy trầm kinh tế. Đầu giây mối nhợ vẫn là khủng hoảng gia cư, đánh dấu bởi tình trạng thiên hạ mua nhà bừa bãi, không trả nợ được, phải bán nhà, tồn kho nhà tăng mạnh, và giá nhà suy xụp.
Cuộc khủng hoảng gia cư không phải nẩy sinh ra trong mấy năm ông Bush làm tổng thống, mà là kết quả của một tiến trình hơn ba mươi năm, kể từ thời TT Carter.
Vào năm 1977, TT Carter nhận thấy các ngân hàng không chịu tài trợ nợ mua nhà rẻ tiền trong các trung tâm (downtown) thành phố lớn, nơi tập trung số đông đảo dân nghèo, phần lớn là dân da màu. Ông ra luật Community Reinvestment Act chẳng những cấm kỳ thị (redlining) những khu này, mà còn bắt buộc các ngân hàng dễ dãi tối đa việc cấp nợ mua nhà cho những khu này. Đưa đến một sự bộc phát nợ mua nhà trong giới trung lưu và nghèo.
Trước áp lực của mức cầu, cộng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ dưới thời TT Reagan, các ngân hàng bị đặt vào tình trạng phải phát triển mạnh để có đủ tiền cho vay. Qua thời TT Clinton, năm 1999 ông Clinton đáp ứng nhu cầu của ngân hàng bằng cách giải tỏa luật lệ kiểm soát ngân hàng, cho phép các ngân hàng thương mại sát nhập vào các ngân hàng đầu tư, công ty tài chánh, và hãng bảo hiểm, đưa đến sự ra đời của những tổ hợp tài chánh khổng lồ như CitiGroup, Bank of America, Lehman Brothers,… Đưa đến tình trạng cạnh tranh sống chết giữa mấy con khủng long này.
Các đại gia này thi đua tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu cho vay mua nhà, chế biến ra những công cụ tài chánh phức tạp như các gói nợ (debt bundles), các nghiệp vụ đầu tư phái sinh (derivatives) và đối xung (hedging) dưới thời TT Clinton.
TT Clinton cũng bành trướng mạnh vai trò của hai cơ quan tín dụng bán công Fannie Mae và Freddie Mac, mua lại hàng trăm tỷ nợ nhà của các ngân hàng để các ngân hàng có tiền cho vay tiếp tục. TT Bush đã nhiều lần đòi gia tăng sự kiểm soát hai định chế này, nhưng đây là hai con gà đẻ trứng vàng giúp hàng triệu gia đình trung lưu và nghèo sở hữu nhà, do đó Bush cũng không có được hậu thuẫn trong quốc hội để có thể làm được gì. Chưa kể là hai cơ sở bán công ấy cũng chi tiền vận động rất mạnh cho phe Dân chủ trong Quốc hội. Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện là Nghị sĩ Chris Dodd bị điều tra chính là vì chuyện này với Fannie Mae và Freddie Mac (chưa kể tiền bạc của hai công ty Countrywide và AIG) mà nay quyết định sẽ không ra tái tranh cử nữa.
Việc dễ dãi hóa nợ mua nhà đưa đến kết quả thực tiễn là 1) sự thịnh hành của nợ thứ cấp (sub-prime) cho những người chưa đủ điều kiện vay mượn bình thường, và 2) giá nhà gia tăng một cách vô lối, đặc biệt là trên các thị trường nóng bỏng như Florida, California, và Nevada. Thiên hạ mau mắn chửi các ngân hàng tham lam không đáy, cũng như chỉ trích Bush đã không làm gì để ngăn chận khủng hoảng, nhưng quên rằng chính mình cũng có trách nhiệm lớn khi vung tay quá trán, mua nhà bừa bãi quá khả năng của mình. Trước khi quy trách nhiệm lên người khác, ta cũng nên nghĩ lại trách nhiệm của chính mình.
Đến một lúc nào đó thì bong bóng gia cư sẽ phải nổ tung, cũng như bong bóng điện toán dot.com đã nổ năm 2000 cuối thời Clinton. Cái không may cho TT Bush, mà cũng cho ứng viên Cộng Hòa McCain, là bong bóng đó nổ lúc cuối trào Bush, đúng một tháng trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 2008. Cả Bush lẫn McCain đã phải trả giá thật đắt cho các chính sách mỵ dân của Carter và Clinton.
Ông Begala chỉ trích Bush đã để lại một cái hố thâm thủng ngân sách khổng lồ. Nhưng ông quên nhắc lại cái hố thâm thủng của Bush là chuyện bắt buộc phần lớn vì cuộc chiến chống khủng bố trong nước cũng như ngoài nước, mà vẫn chưa bằng một phần mười cái hố Obama sẽ để lại trong những năm tới vì chính sách tái phân phối lợi tức của ông. Điều đáng nói là Begala lớn tiếng chỉ trích cái hố thâm thủng chưa tới một ngàn tỷ của Bush, nhưng lại hai tay hoan nghênh cái hố thâm thủng mười hai ngàn tỷ của Obama.
***
Lịch sử sẽ ghi nhận TT Bush đã làm nhiều sai lầm cực kỳ nghiêm trọng, chẳng hạn như không tích cực hơn khi thấy bong bóng gia cư càng ngày càng căng, đã cắt giảm thuế quá nhiều trong lúc nước Mỹ phải gánh hai cuộc chiến khiến ngân sách rơi vào thâm thủng, hay đã không có kế hoạch chu đáo hơn để ổn định Iraq sau khi đã loại bỏ được Saddam. Nhưng tố cáo Bush đã nói láo về vụ Iraq hay đã là thủ phạm tạo ra khủng hoảng gia cư, ngân hàng phá tan nước Mỹ chỉ là viết lại lịch sử. (21-3-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi Thứ Ba.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.