Hôm nay,  

Mỹ-hoa Dàn Trận - Bài Hai

3/25/201000:00:00(View: 10866)

Mỹ-Hoa Dàn Trận - Bài Hai

Nguyễn Xuân Nghĩa

...Yếu tố kinh tế trong trận đấu...
Mở đầu cho loạt bài về những mâu thuẫn thậm chí xung đột sắp tới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, chúng ta cần nhìn lại quan hệ của hai nước trên đại thế.
Người ta thường cho là Hoa Kỳ chi tiêu bừa phứa, lại còn mắc nợ nặng nề sau vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 và nạn suy trầm kinh tế năm 2008-2009. Trong khi đó, Trung Quốc tiết kiệm tối đa và làm chủ một lượng dự trữ ngoại tệ tương đương với 2.400 tỷ Mỹ kim mà đa số được lưu giữ dưới dạng đầu tư vào thị trường Mỹ. Vì vậy, Hoa Kỳ thành quốc gia khách nợ và Trung Quốc là quốc gia chủ nợ, cho nên hai nước đều cần nhau, với thế thượng phong thuộc về chủ nợ.
Nhận xét ấy thật ra phiến diện và không phản ảnh đúng sự thể, nhưng cứ được nhiều "học giả" Mỹ lưu truyền, với sự hoan hỉ của Bắc Kinh và sự sốt sắng phiên dịch của truyền thông Việt ngữ.
Trước hết, như tại nhiều quốc gia khác trên địa cầu từ khi có tự do giao dịch kinh tế, Hoa Kỳ có gặp chu kỳ suy trầm từ cuối năm 2007 và bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 sau vụ bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư từ năm 2006. Vụ khủng hoảng ấy lan rộng khiến nước Mỹ bị coi là thủ phạm của mọi tai họa kinh tế ở nơi khác. Điều ấy không chính xác nếu ta thấy là Âu Châu chưa ra khỏi suy trầm và đang mấp mé khủng hoảng tài chánh vì những chứng tật riêng. Lại càng không chính xác khi ta nhìn qua đầu máy kinh tế thứ nhì là Nhật Bản, bị suy trầm và khủng hoảng từ hai chục năm trước sau vu bể bóng gia cư địa ốc và cổ phiếu năm 1990.
Chẳng những điều ấy không chính xác mà lại không đầy đủ: Trung Quốc có góp phần cho vụ khủng hoảng năm 2008 tại Mỹ, là điều thiên hạ ít biết vì không quan tâm đến kinh tế quốc tế.
Nhắc lại thì Hoa Kỳ có trách nhiệm trong sự bất cẩn vì tinh thần hồ hởi sảng truyền thống của nước Mỹ, nên nhập cảng ào ạt và vay mượn lung tung. Bên kia Thái bình dương, Trung Quốc là nơi mà dân chúng có tâm lý bất an cũng truyền thống nên thắt lưng buộc bụng và tiết kiệm rất cao. Họ còn bị nhà nước thắt lưng buộc bụng để xuất cảng bằng mọi giá cho nhà nước thu về ngoại tệ, lập ra một kho tài sản tung hoành trên thế giới.
Đáng lẽ, kho tài sản ấy đã có thể được đầu tư vào bên trong để nâng cao mức sống toàn dân. Hoặc nhà nước Bắc Kinh đã có thể nâng cao hối suất đồng bạc của mình (đồng Nguyên, hay Nhân dân tệ) để nâng lợi tức người dân. Nhưng lãnh đạo Bắc Kinh không tính như thế. Họ giữ hối suất thấp - nôm na là giàng giá đồng Nhân dân tệ vào đồng Mỹ kim theo tỷ giá cố định và giả tạo - để chiếm ưu thế nhờ xuất cảng với giá rẻ. Rồi có ngoại tệ trong tay, họ đầu tư ngược vào Mỹ để kiếm lời trên một thị trường an toàn hơn là... thị trường Hoa Lục.
Kết quả, đúng hơn, phải nói là hậu quả, là Trung Quốc tạo ra một nguồn tiền lưu hoạt cực lớn, tới cả ngàn tỷ Mỹ kim, được chảy vào thị trường Mỹ.
Nguồn tiền ấy có góp phần làm giảm lãi suất tại Mỹ và thổi lên bong bóng đầu tư. Lãi suất càng hạ, dân Mỹ càng phóng tay chi tiêu nên càng bị nhập siêu về ngoại thương và càng đưa ngoại tệ vào tay Bắc Kinh để lại thổi qua Mỹ. Nói ví von thì dân Mỹ lạc quan như trẻ thơ thích chơi ma túy, Bắc Kinh là người cung cấp!
Sau khi bị Mỹ phàn nàn về việc định giá đồng bạc quá thấp, Bắc Kinh sợ bị trả đũa nên từ tháng Bảy năm 2005 đến tháng Bảy năm 2008, đã tiệm tiến nâng tỷ giá đồng Nguyên khoảng 20% - ghi cho dễ nhớ, thực tế là gần 21%. Thế rồi khi thấy kinh tế thế giới bị suy trầm, từ tháng Bảy năm 2008, Bắc Kinh lại ấn định đồng bạc theo hối suất thấp, rồi tung kế hoạch kích thích kinh tế và khuyến khích xuất cảng bằng trợ giá.
Để tiếp thục thu thêm ngoại tệ về làm dự trữ.
Nói vắn tắt, Bắc Kinh có góp phần gây ra khủng hoảng tài chánh toàn cầu vì tiếp tục bơm tiền.  Và nay còn đình chỉ khả năng điều chỉnh của thế giới - của Mỹ và các nước công nghiệp khác.
Chuyện điều chỉnh ấy là như thế nào"
Là Trung Quốc không nên tiếp tục cạnh tranh nhờ tiền rẻ để xuất cảng ra ngoài mà phải nâng cao khả năng tiêu thụ nội địa - nâng cao lượng nhập cảng - bằng cách tăng hối suất đồng bạc. Tức là phải cho người dân được hưởng công lao sản xuất của mình và nhập cảng nhiều hơn từ các xứ khác hầu quân bình lại cán cân ngoại thương của thế giới. Việc điều chỉnh ấy là cần thiết cho thế giới và cho chính Trung Quốc. Nhưng dù lãnh đạo Bắc Kinh có muốn như vậy từ lâu, họ vẫn không làm được vì những chứng tật ngay trong cơ chế kinh tế chính trị của Trung Quốc.
Trong khi ấy, Bắc Kinh thực tế dựa vào khối ngoại tệ dự trữ làm đảm bảo cho hệ thống tiền tệ và ngân hàng của Trung Quốc! Nếu không, xứ này sẽ bị khủng hoảng. Khi nhìn lại toàn cảnh như vậy, ta thấy Bắc Kinh cũng cần Hoa Kỳ và mong là dân Mỹ sớm ra khỏi suy trầm để tiếp tục cấp cứu kinh tế Hoa Lục bằng cách lại tiêu xài như Mỹ và nhập cảng tưng bừng!


Vì không hiểu điều ấy, hoặc vì gian ý - từ các cơ sở đầu tư có quan hệ với thị trường Hoa Lục và các học giả hay chính khách Mỹ được Trung Quốc viện trợ, hà hơi tiếp sức - người ta mới lưu truyền lý luận rằng Hoa Kỳ là khách nợ nên không thể cưỡng chống Trung Quốc hoặc lớn tiếng đả kích Bắc Kinh về chuyện hối suất đồng Nguyên. Nhiều người còn uyên bác cảnh báo là nếu Mỹ tiếp tục tăng chi vô trách nhiệm hoặc tiêu xài phóng túng thì đồng Mỹ kim sẽ mất ưu thế của một ngoại tệ dự trữ. Bắc Kinh cũng nương theo đó mà từ năm 2008 bắn tiếng dọa nạt là họ sẽ đánh gục đồng đô la hoặc sẽ đưa đồng Nguyên lên hàng "ngoại tệ dự trữ".
Một nét khôi hài phản ảnh sự mù lòa kinh tế hoặc gian manh chính trị. Lý do là muốn thành một ngoại tệ dự trữ có khả năng lưu hành toàn cầu thì đồng Nhân dân tệ phải được thả nổi đã! Là chuyện Bắc Kinh chưa thể làm được!
Trên đây là vài điểm khái quát về tình hình đôi bên, về "tương quan lực lượng" giữa hai cường quốc. Nó không đơn giản như nhiều người nghĩ. Và sẽ còn trở thành phức tạp hơn khi Tổng thống Barack Obama và Lưỡng viện Quốc hội đều khẳng định nhu cầu gia tăng xuất cảng để tạo thêm việc làm - và còn nêu đích danh thủ phạm là Trung Quốc khi lũng đoạn thị trường bằng đồng Nguyên.
Vì vậy mà hai nước đang dàn trận cho một cuộc đấu trí toàn diện, nhưng đều mong là không đi tới đấu lực.
Trong vụ đấu trí, Trung Quốc có một ưu điểm... tiền kiếp. Đó là lời khuyên trong Binh pháp Tôn tử "Không đánh mà khuất phục được người mới là sáng suốt nhất". Cả một nền văn hóa về mưu lược chính trị đã thấm nhuần triết lý đó. Muốn thế, phải dụng mưu - kể cả làm chuyện dối trá - phải đánh đòn ngoại giao để tranh thủ người này, ly gián người kia, chứ dụng binh rồi đánh thành mới lả dở nhất. Từ đó, và cho đến ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn có "chiến lược kỳ biến" là gây ra nhận thức giả tạo về ta (Trung Quốc) và về địch (Hoa Kỳ trong trường hợp này) và cả mưu "gây ấn tượng" (tốt về ta và xấu về địch) ngay trong hàng ngũ địch. Đấy là phần vụ của tuyên truyền và nghệ thuật "lobby" rất phổ biến trong xã hội Hoa Kỳ, có khi còn nhắm vào thành phần có trách nhiệm về tình báo, ngoại giao và chính sách ứng phó với Bắc Kinh.
Ngược lại, Hoa Kỳ cũng có ưu điểm của một xã hội trẻ, cởi mở và đa nguyên, nơi mọi chuyện đều đưọc tranh luận công khai, mọi thông tin đều trình bày minh bạch. Và quan trọng nhất là ưu thế tự do kinh tế khiến mọi chuyện trái phải, lợi hại đều thường xuyên được thẩm xét và thay đổi.
Nhưng đấy là chuyện văn hoá chính trị lâu dài.
Chuyện trước mắt là thực lực kinh tế và trí tuệ của hai hình thái xã hội khác nhau. Một thí dụ thời sự là Hoa Kỳ mắc nợ ngập đầu làm các chính trị gia tranh luận thường xuyên nhưng chẳng vì vậy mà chính quyền tan rã. Trong khi ấy, và đây cũng là một tiết mục thời sự, Trung Quốc đang mất dần ưu thế xuất siêu vì thặng dư về xuất nhập cảng bị thu hẹp. Tức là xuất cảng không tăng kịp đà nhập cảng.
Hôm 22 vừa qua, nước Mỹ mải tranh luận chuyện cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế nên không chú ý đến lời báo động của Bộ trưởng Thương Mại Bắc Kinh là Trần Đức Minh, rằng số thặng dư mậu dịch giảm 22 tỷ trong hai tháng đầu năm nay. Sau hai năm bơm tiền kích thích kinh tế và khuyến khích xuất cảng, ưu thế ngoại thương của Trung Quốc đang sụt vì nhập cảng tăng hơn 63% mà xuất cảng chỉ thêm có 31,4%. Hoa Kỳ vốn dĩ đã quen với chuyện ấy nên không thấy là lãnh đạo Bắc Kinh đang rất lúng túng vì ảnh hưởng chính trị sẽ lên tới trung ương. Mà do tình hình kinh tế chưa khả quan, số nhập cảng Âu-Mỹ-Nhật chưa tăng, chiều hướng bất lợi này còn tiếp tục và Bắc Kinh không có đất lùi. Mâu thuẫn Mỹ-Hoa vì vậy càng dễ bùng nổ.
Trong khi đó, khi nhìn lại toàn cục thì bong bóng đầu tư tại Mỹ là hiện tượng tự phát, khiến nhiều người có lợi và nhiều nhà đầu tư phá sản khi bóng bể. Tại Trung Quốc, bong bóng đầu tư là kết quả của chánh sách quản lý kinh tế quốc dân và đem lại mối lời lớn cho đảng viên cán bộ hay tay chân thân tộc. Ngày bóng bể thì dân nghèo lại bị thiệt hại hơn cả và tiền tiết kiệm gửi ngân hàng có khi là giấy lộn. Vì vậy, khi Trung Quốc đang ngồi lên một bong bóng đầu tư vĩ đại, lãnh đạo Bắc Kinh không thể không lo sợ.
Kết cuộc là trong trận đấu trí này, Trung Quốc không chiếm thế thượng phong.
Và nếu, theo giả thuyết giả tưởng của kịch bản "do âm mưu của Mỹ", nếu bong bóng Hoa Lục cứ tiếp tục căng phồng như thế này, Trung Quốc sẽ lại gặp tai họa như Nhật Bản hai chục năm trước. Với kết quả chính trị kinh hoàng hơn nhiều. Vì xứ này không có dân chủ!

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.