Hôm nay,  

Nhân Quyền Vấn Đáp

11/02/200800:00:00(Xem: 8018)

Nhân Quyền Vấn Đáp

Bài số 1

Sau đây là bài vấn đáp cung cấp kiến thức cho bạn về nhân quyền.

- Hỏi 1: Nhân quyền và Dân quyền khác nhau ở chỗ nào"

- Đáp 1: Nhân quyền là những quyền làm người căn bản và phổ quát đã được tất cả các quốc gia hội viên của Liên Hiệp Quốc công nhận và đề cao. Theo đó, con người sinh ra, bất kể nam nữ, màu da, tôn giáo, chủng tộc và chế độ chính trị, ai cũng có những nhân quyền như nhau. Trong khi đó, Dân quyền là những quyền công dân của một nước, được quy định bởi hiến pháp và luật lệ của quốc gia, vì thế dân quyền của mỗi nước không nhất thiết phải hoàn toàn giống nhau.

Ngoài ra, một diều quan trọng ta nên nhớ, đó là  Nhân quyền có trước và phổ quát hơn Dân quyền.

- Hỏi 2 : Xin đơn cử một ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa Nhân quyền và Dân quyền.

- Đáp 2: Với tư cách công dân, người dân có quyền tham gia bầu cử và ứng cử. Nhưng tùy theo luật lệ của mỗi quốc gia, người dân phải hội đủ một số điều kiện nào đó, ví dụ là 18 tuổi trở lên, đã cư trú tại địa chỉ hiện tại ít nhất là 3 tháng, 6 tháng, v.v. Đó là Dân quyền.

Trái lại, bất cứ ai, dù già hay trẻ thơ, nam hay nữ, sinh sống trong một quốc gia, dù là công dân hay chỉ là thưởng trú cũng đều được hưởng những Nhân quyền căn bản như tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn, v.v.

- Hỏi 3:  Liên Hiệp Quốc đã được ra đời từ năm nào và với mục đích gì"

- Đáp 3: Vào mùa Xuân năm 1945, trước khi đệ nhị thế chiến kết thúc, 50 quốc gia đã tổ chức một Hội Nghị quốc tế tại San Francisco để ký kết Hiến Chương thành lập Liên Hiệp Quốc nhằm mục đích duy trì hòa bình thế giới, tránh đại họa của một cuộc chiền thế giới thứ ba với vũ khí nguyên tử có khả năng tiêu diệt loài người trên địa cầu nầy.

- Hỏi 4: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được ra đời từ khi nào"

- Đáp 4: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Đại Hội Đồng LHQ họp tại Paris thông qua ngày 10-12-1948 với 48 phiếu thuận, 6 phiếu trắng và không có phiếu chống.

- Hỏi 5: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Luật Quốc Tế Nhân Quyền khác nhau ở những chỗ nào"

- Đáp 5: Tuyên Ngôn là một văn kiện nói lên lý tưởng đề cao Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Nó chỉ là một bản tuyên bố ý định chứ không có hiệu lực pháp lý.

Trái lại, Luật Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm ba văn kiện: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa.

Mọi quốc gia thành viên của LHQ đương nhiên chấp nhận Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhưng muốn gia nhập các Công Ước Nhân Quyền, phải được Quốc Hội của nước đó phê chuẩn mới có hiệu lực.

Vì thế Luật Quốc Tế Nhân Quyền có giá trị cưỡng hành và cao hơn giá trị Hiến Pháp và Luật Pháp quốc gia.

- Hỏi 6: Hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền đã được thành lập từ năm nào"

- Đáp 6: Hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền đã được thong qua từ năm 1966, nhưng phải đợi đến 10 năm sau, hai Công Ước nầy mới được đa số các quốc gia hội viên LHQ phê chuẩn, và vì thế năm 1976 LHQ mới chính thức công bố.

- Hỏi 7: Việt Nam gia nhập LHQ từ năm nào" Và đến khi nào thì Quốc Hội CSVN phê chuẩn hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền"

- Đáp 7: Việt Nam gia nhập LHQ năm 1977 và phê chuẩn hai Công Ước về Nhân Quyền năm 1982.

- Hỏi 8: Có người cho rằng tranh đấu Nhân Quyền và đòi hỏi Dân Chủ đều có mục tiêu tối hậu là đem lại Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho mọi người. Như thế tranh đấu vì Nhân Quyền và tranh đấu cho Dân Chủ khác nhau ở chỗ nào"

- Đáp 8: Như chúng ta đã thấy, các điểu khoản 18, 19, 20 và 21 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng như các điều khoản 18, 19, 20 và 21 trong Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị đều ghi rõ các quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tham gia nghiệp đoàn và đảng phái chính trị, tự do ứng cử và bầu cử. Như thế, trong Nhân Quyền đương nhiên có Dân Chủ. 

Trong thực tế, tại các quốc gia cộng sản độc tài hoặc quân phiệt chuyên chế, Nhân Quyền của người dân bị chà đạp, không có tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do lập hội, lập đảng. Chỉ tại các nước có dân chủ thực sự thì Nhân Quyền mới được tôn trọng.  Do đó, muốn có Nhân Quyền, người dân phải tranh đấu đòi hỏi nhà nước phải thực thi Dân Chủ.

Cũng chính vì thế, người ta thường nói rằng Nhân Quyền và Dân Chủ là hai mặt của một đồng tiền.

(Mạng Lưới Nhân Quyền VN: http://www.vnhrnet.org/)

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.