Hôm nay,  

Đường Lên Núi

21/10/200900:00:00(Xem: 10573)

Đường Lên Núi

Huệ Trân
Túi vải trên vai, đầu đội nón lá (không đội trời), chân mang dép mủ (không đạp đất), vậy mà cũng quyết chí bước thấp bước cao lên núi, từ trước tuần lễ cuối của tháng chín thu bay…
Thu chi mà nóng dữ vậy"
Có gì đâu, chỉ vì Hạ lưu luyến chưa chịu đi, phải chứng tỏ sự hiện diện một cách quyết liệt là ngày nào cũng nóng sấp sỉ trăm độ, trong suốt khóa tu  Mindfulness Is A Source Of Happiness -  Chánh Niệm Là Suối Nguồn Của Hạnh Phúc.
Khóa tu trên Đại Ẩn Sơn Lộc Uyển Tự, chỉ có năm ngày thôi, từ 23 đến 27 tháng 9/2009, nhưng tôi tham lam, nguyện tới trước và về sau là để được thở cho đầy gió núi, được ôm cho trọn mây trời, được gối cho thỏa trăng non những đêm mênh mông tinh tú.
Năm ngày đầy ắp Hạnh Phúc, đã đúng như chủ đề, vì suốt năm ngày, mỗi ngày từ 5 giờ sáng đến 9 giờ rưỡi tối, thời khóa đan kín nhau hài hòa đã luôn giữ tâm hành giả trong Chánh Niệm. Mà Chánh Niệm chính là suối nguồn của Hạnh Phúc.
Riêng tôi, không phải chỉ được hưởng hạnh phúc trong khóa tu mà còn từ những hội ngộ bất ngờ kỳ thú. Ngay hôm đầu, nhận phòng xong, bước ra lối mòn để nhận định địa thế, thì thấy trên dốc sỏi, từ ni xá Xóm Trong Sáng, một sư cô đang thong thả đi xuống. Khi sư cô tới gần, dưới vành nón lá, chợt nhận ra đôi mắt thân quen. Thế là cả hai chúng tôi cùng buông hết những gì đang cầm trên tay, ôm chầm lấy nhau, mừng rỡ:
- Sư cô Nhẫn Nghiêm!
- Sư cô Huệ Trân!
Và những hỏi han thân thương, tíu tít dường như bất tận.
Rồi suốt buổi chiều đó, khi lên thiền đường, lúc xuống trai đường, khi đi phơi áo, lúc lấy nước … hết gặp sc Tư Nghiêm, sc Hành Nghiêm, lại gặp sc Liên Thanh, sc Định Nghiêm, sc Thanh Ý ….. Đây là các sư cô ở Xóm Mới, bên Làng, mà khóa An Cư Kiết Đông hai năm trước tôi đã được cùng tu học. Hai sư cô Đắc Nghiêm và Bách Nghiêm cũng từ Làng, nhưng đã chuyển về Lộc Uyển; cũng như sư cô Đẳng Nghiêm, qua Làng an cư năm đó, nhưng sư cô trụ ở Lộc Uyển nên tôi đã gặp thêm vài lần. Ngày hôm sau, ở trai đường, tôi lại được gặp các thầy ở Xóm Thượng nữa. Chúng tôi cùng mừng rỡ khi bất ngờ nhìn thấy nhau, khác chi anh chị em ruột thịt xa nhà, lâu ngày được hội ngô. Thì ra chuyến đi này có một số thầy cô bên Làng tháp tùng Sư Ông.
Lạ thay là tình tăng lữ, đẹp như ngọc lưu ly trong suốt chẳng bợn chút bụi cát của đố kỵ tỵ hiềm. Những ai mượn nghĩa tình này mà lại làm hoen ố, thì thực mang tội biết bao!
Đã từng được dự An Cư Kiết Đông ba tháng với tăng thân, tôi không bỡ ngỡ nhiều với thời khóa nữa. Nhưng thật kỳ diệu là mỗi phút mỗi giây quen thuộc này vẫn khai sinh trong tôi những cảm xúc mới mẻ.
5 giờ sáng, bầu trời còn lấp lánh sao đêm, chúng tôi đã đi bên nhau, theo lối dốc lên thiền đường Thái Bình Dương. Chúng tôi đi trong im lặng nhưng vẫn nghe thấy tiếng cười khúc khích của trăng sao, truyện trò với những ánh đèn pin loang loáng trên đường dốc núi.
Tới thiền đường, nón, mũ, giầy dép đều tự giác xếp ngay ngắn, gọn gàng hai bên hông cửa, rồi ai nấy lặng lẽ bước vào, tự tìm vị trí thích hợp mà ngồi xuống, khoanh chân, tĩnh tọa, trước khi giờ thiền chính thức bắt đầu.
Đúng 6 giờ, tiếng chuông ngân lên, quyện vào giọng trầm ấm của một sư chú hoặc sư cô qua lời dẫn kệ:
“Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai
Tĩnh tọa lòng an, miệng mỉm cười
Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức
Mặt trời trí tuệ rạng muôn nơi
Ngưỡng mong đại chúng tinh tấn nhiếp tâm thiền tập.
Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni”
Sau lời nhắc nhủ này, toàn thể đại chúng cùng thành kính cất tiếng theo: “Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni”
Rồi tất cả chìm trong im lặng của không gian thiền vi.
Những ai chưa từng ngồi trong không gian này, chưa được thả rơi từng tiếng hô canh kỳ diệu này vào buồng phổi sớm mai, vị đó bàng hoàng và cảm động đã đành. Tôi may mắn đã ngồi như thế, đã nghe như thế suốt ba tháng an cư mà sao trước mỗi thời thiền tọa, khi giọng sư chú hoặc sư cô ngân lên, tôi cũng vẫn rung động toàn thân, tưởng như những gì cực kỳ trang nghiêm và thanh tịnh nơi đây đang được Chư Phật mười phương nhìn xuống và chứng giám.
Có vị nào cảm thấy như tôi không"
Tôi chắc là có. Và có nhiều lắm! Cứ nhìn toàn thể đại chúng thì biết, hàng trăm người, có người mới, có người cũ, không ai bảo ai mà tất cả đều “trang nghiêm cõi Phật bằng trang nghiêm tâm mình”
Sau 30 hoặc 45 phút thiền tọa, tiếng khánh trong vắt ngân lên để đại chúng thư giãn. Ấy thế mà không khí trang nghiêm vẫn đầy ắp! Trang nghiêm một cách an lạc chứ không phải trang nghiêm gò ép, vì có ai gò ép đâu!
Rồi cũng lại tiếng khánh báo hiệu đứng lên, lạy Phật để chuẩn bị ra ngoài thiền hành.
Thầy thân ái nhìn đại chúng, mỉm cười, rồi nhẹ cất bước. Thị giả đeo túi vải đi sau. Đại chúng cứ thế mà tuần tự bước theo, không ồn động, không lao xao, không tranh giành kẻ trên người dưới. Đường thiền, khi thì lối mòn quanh co, khi thì cheo leo vách núi, lúc lại uốn khúc tường hoa. Mỗi buổi thiền hành, đại chúng được đi mỗi lối khác. Nhưng đi lối nào cũng thơm ngát gió núi hoa rừng vì:
“Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nở hoa sen” (*)
Khi tới điểm dừng, Thầy lại nhìn khắp đại chúng, mỉm cười. Thị giả hiểu ý, mở chiếc chiếu nhỏ, trải xuống. Đại chúng cũng hiểu ý, ai nấy tự tìm chỗ ưa thích mà ngồi xuống.
Không một lời mà vẫn như ngàn lời vì:
“Ngồi thiền trong tích môn
Nơi nào không thành đạo
Sinh tử trải bao lần
Phút giây nào độc đáo!
Ngồi thiền trong bản môn
Giây nào cũng thành đạo
Cội nào cũng Bồ Đề
Tòa nào cũng Đa Bảo!” (*)
Lên núi hay xuống núi, đường đi hay đường về, chỉ lặng thinh mà chan hòa an lạc.
Về lại trước sân trai đường, hoàn tất buổi thiền hành sáng, Thầy xá đại chúng. Đại chúng kính cẩn đáp lại. Chờ bóng Thầy khuất sau tàng bạch dương, đại chúng mới bắt đầu chấp tác trước khi ăn điểm tâm.
Toàn thể tu sỹ và cư sỹ được chia đều thành những nhóm chấp tác, mỗi nhóm phụ trách một số công việc và do một sư cô hoặc sư chú hướng dẫn. Tên của các nhóm nghe thơ mộng lắm, chẳng hạn như nhóm Bếp Lửa Hồng, Tùng Xanh, Cốc Trà Thơm, Cánh Đại Bàng …v…v… Riêng tôi, được hướng dẫn nhóm Mây Thong Dong gồm 12 người mà trong đó lại tình cờ có hai Phật tử thường về chùa tu mỗi cuối tuần. Hai cụm mây đó, khi nghe loan báo tôi là người phụ trách nhóm thì mừng lắm và hết lòng đi gom 10 cụm mây còn lang thang đâu đó lại, để thong dong làm việc.


Giờ tu im lặng đã đành, mà giờ làm việc cũng chỉ nói khi cần hỏi nhau về công việc. Quả đúng như 2 câu thư tháp dạy chúng trong chùa Già Lam:
“Nói năng như Chánh Pháp
Im lặng như Chánh Pháp”
Nếu không SỐNG trong không gian của im-lặng-chánh-pháp thì khó mà hưởng được hạnh phúc của im-lặng-chánh-pháp. Cũng như với ai, tâm chưa hề Định, ý chưa hề Thiền thì khó mà hiểu được rằng, giữa hỗn loạn của ngũ trược ác thế, tâm hành giả vẫn có thể ở trong Thiền, trong Định, dù bên ngoài đang là ác trược bủa vây.
Như thường lệ, trước giờ Thầy giảng pháp, tăng thân chậm rãi đi lên bằng hai ngả, lặng lẽ đứng thành hình vòng cung trước Thầy và trước đại chúng. Những người tham dự lần đầu, chỉ cảm nhận hình ảnh này đẹp quá, êm đềm quá, nhưng không biết các sư cô sư chú sắp làm gì đây. Tôi được dự nhiều lần nên đã biết. Khi đội hình đã vào vị trí trong tĩnh lặng đầy thiền vị, là lúc tiếng hát nhẹ cất lên. Rồi muôn tiếng hát hòa đồng cất lên:
“Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm
Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm
Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm ……”
Giọng nữ dứt, giọng nam cuốn theo, khi trầm khi bổng, lúc nhanh lúc chậm, thành giòng hòa tấu hùng tráng, mượt mà, không cần một chút kỹ thuật nào trợ duyên mà tiếng niệm Quan Âm vẫn thẩm thấu tận đáy tim những người đang chắp tay tận hưởng.
Mười phút kỳ diệu như thế, rồi âm thanh đó im bặt. Dòng suối nâu lên bằng hai ngả, lại nhẹ nhàng xuống bằng hai ngả.
Và Thầy thong dong bước lên bục giảng: “Thưa đại chúng, hôm nay là ngày …. “
Cứ như thế, thời khóa với thiền tọa, thiền hành, tụng kinh, pháp thoại,  pháp đàm, tham vấn, thiền buông thư, thiền lạy, ăn cơm im lặng, chấp tác … v…v… đều giữ trong Chánh Niệm, tạo nên cả một không gian đầy hùng lực của Từ Bi và Trí Tuệ.
Khóa tu ngắn ngủi năm ngày còn lồng vào hai sự kiện đẹp. Đó là buổi thiền hành sáng thứ sáu 25 tháng 9, Thầy đã dẫn đại chúng men theo những đường đá mấp mô tới một khoảng đồi cao nằm giữa hai xóm Trong Sáng và Vững Chãi. Nơi đó đã được bầy sẵn một ban thờ nhỏ đơn sơ với hình Đức Thích Ca, hoa, đèn và chuông mõ.
Đại chúng được cho biết là Thầy sẽ chứng minh lễ đặt viên đá đầu tiên xây ni xá.
Sư cô Trung Chính, ni trưởng Xóm Trong Sáng đã nghẹn ngào trình bầy trước Thầy và đại chúng, là gần mười năm qua, các sư cô luôn phải đối phó với khí hậu nghiệt ngã của mùa đông và mùa hè nơi đây; nghĩa là lạnh thì lạnh quá mà nóng thì nóng quá! Những căn phòng được chắp vá, sửa lại từ một khu là nơi tập xử dụng vũ khí của quân đội khi xưa, không hề có một tiêu chuẩn điều hòa nào. Nhưng thời gian qua, chứng tỏ sức chịu đựng và tinh thần thiểu dục tri túc của các sư cô đã đánh động lương tâm một số bạn đạo người ngoại quốc. Họ gợi ý sẽ giúp đỡ lúc khởi đầu nếu tăng thân nghĩ tới dự án xây ni xá để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng.
Lễ đặt viên đá chỉ mới nói lên lòng mong mỏi, nhưng ngay sau khi cuốc đất đầu tiên được Thầy phủ lên viên đá thì sự nhiệt thành yểm trợ của đại chúng ngay tại chỗ đã cho thấy lòng mong mỏi kia sẽ sớm thành tựu.
Sự kiện thứ hai gây ấn tượng trong đại chúng là Lễ Truyền Hai Giới và Lễ Thọ Năm Giới của hàng trăm giới tử lúc 6 giờ 30 sáng chủ nhật 27 tháng 9. Thiền đường sáng rực y vàng của quý thầy cô, đồng chứng minh cho đoàn giới tử đông đảo, trang nghiêm quỳ thành hàng dài giữa hai bên tăng ni để nghe Thầy Truyền Giới là Thiền-sư Trừng Quang Nhất Hạnh thuộc thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán, đọc chậm rãi từng giới. Sau mỗi giới, giới tử đều tự vấn rồi đồng trả lời câu hỏi:
- Quý vị có tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới ấy không"
- Dạ, thưa có.
Hình thức đơn sơ nhưng không khí hết sức uy nghiêm đã làm rơi lệ nhiều người hiện diện.
Bài viết ngắn này chỉ là chia xẻ Hạnh Phúc của người may mắn được hưởng Hạnh Phúc, tới những ai hằng tìm cầu Hạnh Phúc. Đây không phải là một bài tường thuật nên không đi vào mọi chi tiết, nhưng kẻ viết, chợt nhớ tới chương “Cửa vào Bất Nhị” trong Kinh Duy Ma Cật nên phác họa đôi nét về khóa tu, làm một gạch nối mờ nhạt để hữu thanh truyền đạt vô thanh, hữu tướng hiển bày vô tướng.
Một khóa tu ngắn, rất bình thường, chỉ là một, trong lịch trình các khóa tu dài, ngắn khác, trải suối từ mỗi đầu năm tới cuối năm mà Thầy và tăng thân hướng dẫn trên khắp các quốc gia, đã như dòng sông, từ nhiều thập niên qua, vẫn trôi như thế, vẫn chảy như thế, vẫn mang Hạnh Phúc tới bất cứ nơi nào dừng lại như thế.
Sự im lặng của dòng sông là sự im lặng của CHO mà không chờ NHẬN. Những bến bờ sông đã chảy qua, đất mầu và phù sa để lại tự bồi đắp thành ruộng lúa nương dâu mang lợi ích cho đời.
Sông vẫn trôi. Và im lặng trôi.    
27 tháng 9 năm 2009 kết thúc khóa tu “Chánh Niệm Là Suối Nguồn Hạnh Phúc” trên Đại Ẩn Sơn-Lộc Uyển Tự tại Hoa Kỳ cũng là ngày, ở một nơi cách xa nửa trái địa cầu, “Thất Niệm Là Đầu Mối Địa Ngục” khi sự tham lam, dối trá, ác độc đã vỡ bờ và đổ ập xuống 400 tăng ni sinh trẻ tuổi tại tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Đồng, nước Việt Nam!
400 nụ hoa nhỏ bỗng bừng nở, mãn khai.
Ai có thể chối bỏ rằng, nếu không từng được ân cần chăm sóc, tưới tẩm, nuôi dưỡng bằng pháp-thực, thì trước bão tố, hương sen nào có thể đồng loạt tỏa ngát giữa bùn lầy tanh hôi như thế!
Trang sử nhân loại - nói chung - và trang sử Phật Giáo Việt Nam - nói riêng - vừa hiện nguyên hình tất cả những gì cực đẹp cũng như cực xấu, không gì có thể che dấu được!
Dưới ánh sáng mặt trời, bằng kỹ thuật tin học toàn cầu, mọi sự việc và hình ảnh đều đang tự nói “As it” “Như thị” “Như vậy” “Như thế ” …
Không cần tới một lời chú thích!
Thế giới đang nghe, đang nhìn. Và đều biết.
Chỉ những kẻ nhúng tay vào tội ác là vẫn như không nghe, không thấy, tiếp tục đi trong đêm tối của vô minh dầy đặc!
Huệ Trân
(Tháng 10/09 – Phong Vân Am)
(*) Nhật Tụng Thiền Môn – Làng Mai biên soạn.

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.