Hôm nay,  

Lá Phiếu Âu Châu

23/07/200800:00:00(Xem: 8890)
...nếu cử tri Mỹ lại bỏ phiếu khác với cử tri Âu Châu - nhiều phần là như vậy - quan hệ Mỹ-Âu sẽ không được hàn gắn...

Khi Âu và Mỹ cùng nhìn về một hướng...

Tuần này, dư luận Âu Châu sẽ có dịp chiêm ngưỡng dung nhan của Nghị sĩ Barack Obama, ứng cử viên sẽ thành chính thức của đảng Dân Chủ trong cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Đây sẽ là dịp khiến người ta tự hỏi vì sao Âu Châu cứ bỏ phiếu... trật, rồi hậm hực với Mỹ.

Mọi chuyện dường như xảy ra tại... Florida.

Trong cuộc bầu cử năm 2000, đại đa số dân chúng Âu Châu đều có thiện cảm với ứng cử viên Al Gore, Phó tống thống trong tám năm của ông Bill Clinton. Trong các cuộc khảo sát ý kiến, hơn 70% dân chúng Âu Châu cho biết là họ sẽ dồn phiếu cho Al Gore nếu được phép đi bầu. Tỷ lệ quá lớn ấy cho thấy dân chúng Âu Châu nói chung thiên tả hơn dân Mỹ, cũng chẳng sao vì mỗi nơi lại có những đặc tính hay ràng buộc riêng về tư tưởng và quan điểm.

Chuyện éo le không phải là không một ứng cử viên tổng thống nào lại có thể đạt được số phiếu tới 70% của cử tri Mỹ. Chuyện éo le là cuộc bầu cử ngang ngửa tại Mỹ vào năm 2000 khiến lá phiếu của cử tri tại một quận của Florida lại quyết định về kết quả của cả tiểu bang, và từ đó kết quả của cuộc bầu cử.

Âu Châu theo dõi chuyện kiện cáo và đếm phiếu rất sát. Tới khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra phán quyết, với đa số là một phiếu, về việc đếm phiếu tại Florida, dư luận Âu Châu cay cú kết luận là Bush đã thắng một cách bất xứng. Họ còn cay cú hơn cả Al Gore, và không che giấu ác cảm dành cho một tay cao bồi Texas, đầy vẻ Mỹ ruộng, rất kém văn hoá.

Tuần trăng mật giữa Tổng thống Bush với Hoa Kỳ không bao giờ có: Bush không quên lá phiếu chật vuột và thái độ khiếm nhã của Âu châu. Ông đi tìm một Âu Châu khác.

Nhậm chức vào tháng Giêng, Bush tham dự thượng đỉnh Âu-Mỹ vào tháng Sáu, nhưng không đặt chân vào hai cột trụ chính của Âu Châu là Đức và Pháp. Ông tới Tây Ban Nha họp Thượng đỉnh của Minh ước NATO và bay thẳng qua Thụy Điển dự thượng đỉnh Âu-Mỹ rồi ghé thăm Ba Lan, nói chuyện với Âu Châu từ thủ đô Warsaw. Chủ điểm là tự do - một nhắc nhở về quá khứ đen tối của Âu Châu khi tự do bị vùi dập, và thảm kịch xảy ra.

Bài diễn văn ấy trở thành cương lĩnh đối ngoại của vị Tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ. Mà Âu Châu không hiểu.

Tại thủ đô của Ba Lan, ông Bush nói về nền tảng bất di bất dịch của Tây phương, cả Âu lẫn Mỹ, là tự do và dân chủ, là quyền tự quyết của các dân tộc, và nỗ lực của các quốc gia nhằm phát huy tinh thần độc lập, sự cởi mở về tư tưởng và thịnh vượng về kinh tế. Âu Châu vẫn nghĩ rằng đây là khẩu hiệu nhàm chán, nhưng lúng túng khi Bush nói thêm về chuyện mới cũ: nền dân chủ mới tranh thủ của Ba Lan là biểu hiệu chói lọi về tinh thần dân tộc của quốc gia này. Bush gián tiếp làm nổi bật vai trò của Hoa Kỳ khi đưa quân sang bảo vệ Âu Châu rồi góp phần tái thiết và xây dựng dân chủ cho Tây Âu. Trước Tổng trưởng Donald Rumsfeld mấy năm, ông Bush đã nghĩ tới hai Âu Châu "cũ" và "mới". Âu Châu cũ đã quên chuyện cũ, và quên cả sự đóng góp của Hoa Kỳ.

Khi gặp các lãnh tụ Anh, Đức, Pháp của Âu Châu, Barack Obama không nên quên một kết luận đầy tính tiên tri của Bush: "Khi Âu Châu và Hoa Kỳ mà thiếu thống nhất, thảm kịch thường hay xảy ra!" Tiên tri khi ta nhớ tới thời sự hiện đại, kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm của Iran.

Một cựu sĩ quan đã từng phục vụ tại Tây Đức và rất được lòng dư luận Âu Châu là Ngoại trưởng Colin Powell cũng không nói khác: Tại Âu châu, Hoa Kỳ không chinh phục xâm chiếm gì hơn là khoảnh đất an táng các chiến binh Mỹ đã hy sinh trên chiến trường Âu Châu, cho tự do của người dân Âu Châu. Vậy mà các nước Âu Châu vẫn chưa hiểu.

Hoa Kỳ cũng không hiểu vì sao việc Tổng thống Ronald Reagan thiết trí các hoả tiển tầm trung tại Đức để bảo vệ Tây Âu trước 60 sư đoàn và rất nhiều phi đạn Liên Xô lại bị dân Đức biểu tình phản đối với khẩu hiệu "Thà đỏ hơn chết". Đó là chuyện xưa. Chuyện nay, Hoa Kỳ càng không hiểu vì sao mà sau khi Mỹ bị vụ khủng bố 9-11, vẫn còn người Đức giăng biểu ngữ trên cổng Brandenburg: "Thưa Tổng thống, ông đừng gây chiến!"

Khoảng cách tư duy của hai thế giới Âu-Mỹ quả là đã mở rộng và lỗi đó không hoàn toàn vì Bush.

Sau vụ khủng bố 9-11, Minh ước NATO viện dẫn điều năm của Hiến chương: "tấn công một thành viên của NATO là tấn công tất cả các hội viên NATO". Vì vậy, chiến dịch Afghanistan khai mở với sự tham dự của NATO bên cạnh các đơn vị Hoa Kỳ. Lúc ấy, Chính quyền Bush mới chưng hửng về khả năng đóng góp rất thấp của các đơn vị tác chiến Âu Châu. Vấn đề không phải là NATO gop được hai vạn quân đứng cùng chiến tuyến với hai vạn lính Mỹ. Vấn đề là làm sao đưa các đơn vị đó từ Âu Châu ra tới vùng hoả tuyến Afghanistan. Mỹ đi gánh nợ của quân vận.

Các nước Âu Châu (cũ) thường dõng dạc lên tiếng về mọi chuyện của thế giới, nhưng nói rồi phải làm, khi làm thì lực bất tòng tâm. Đấy là mặt trái, quân sự, của sự gắn bó Âu-Mỹ khi nhập trận tại Afghanistan. Mãi tới gần đây, Canada còn than phiền và đòi rút quân vì thấy các thành viên Âu Châu của Minh ước NATO không góp thêm quân như đã hứa hẹn. Mà Canada không phải là một xứ cao bồi Texas hoàn toàn tâm phục và khẩu phục ông Bush!

Mỗi khi phải đóng góp xương máu để giải quyết thiên hạ sự, Âu Châu cứ như người bị nhổ răng và trong rất nhiều trường hợp, thường chọn giải pháp hoà hoãn để khỏi bị mất máu.

Nhưng, tệ nhất là khi Âu Châu bàn lui rồi còn dạy dỗ Hoa Kỳ về lề lối cư xử.

Trước khi Iraq tấn công Kuweit, các nước Âu Châu đều biết bản chất của chế độ Saddam Hussein, sau đó càng rõ hơn khi Saddam Hussein dùng võ khí tàn sát để giết cả trăm ngàn dân Kurd và dân Shia - của Iraq. Âu Châu cũng biết Saddam Hussein thường xuyên vi phạm nghị quyết của Liên hiệp quốc và tấn công các phi cơ Hoa Kỳ - dưới màu cờ quốc tế - bảo vệ vùng cấm bay tại phía Bắc và phía Nam. Các lãnh tụ Âu Châu cũng đều được tình báo - của mình - cho biết Saddam Hussein vẫn tiến hành kế hoạch chế tạo võ khí tàn sát, có khi còn tiến tới loại võ khí nguyên tử.

Khi Chính quyền Bush đề nghị Liên hiệp quốc áp dụng những nghị quyết đã có về Iraq, các nước Âu Châu đều ủng hộ. Nhưng cuối cùng thì Pháp lại bàn lui, với sự đồng tình của Đức. Để Busch lãnh tội một mình là đơn phương tấn công Iraq. Người ta không tính đến sự tham gia của hơn hai chục quốc gia khác! Đó là chuyện 2003.
Qua cuộc bầu cử 2004, Âu Châu lại bỏ phiếu trật nữa!

Giữa hai ứng cử viên George W. Bush và John Kerry, dư luận Âu Châu thiên về Kerry với tỷ lệ 71%. Nghĩa là còn bảo hoàng hơn vua và tái diễn hài kịch Al Gore của bốn năm trước.

Nếu dân Mỹ chỉ bỏ phiếu căn cứ trên chương trình tái tranh cử của Bush thì Kerry sẽ thắng to, nhưng không thể nào thắng với tỷ lệ hoang đường là 70%. Nhưng khốn nỗi, thiên hạ lại bỏ phiếu cho Bush chính là vì Kerry, vì con người và chủ trương của ông ta. Nghĩa là đảng Dân Chủ chọn lầm ứng cử viên chứ nếu không thì ông Bush lại theo cha, thành tổng thống một nhiệm kỳ.

Chuyện này, dân Âu Châu không hiểu nên coi Bush như pha, và nếu được đáp lễ - bị Bush coi như pha - thì cũng là huề. Thật ra, qua nhiệm kỳ hai, Chính quyền Bush có thiện chí hàn gắn mối quan hệ lạnh nhạt với Âu Châu và cả Liên hiệp quốc.

Ngoại trưởng Condoleezza Rice ra sức làm việc thợ hàn đó, mà vẫn không thành vị sự dị ứng quá sâu quá nặng của Âu Châu với tất cả những gì có màu George Bush.

May là Angela Merkel lên làm Thủ tướng Đức rồi Nicolas Sarkozy lên làm Tổng thống Pháp. Hai lãnh tụ mới của Âu Châu "cũ" đã hoàn thành phần vụ của mình và quan hệ giữa Hoa Kỳ và Âu Châu đã có đôi chút cải thiện. Nhưng, nước Mỹ lại có bầu cử và lá phiếu Âu Châu lại dồn qua Obama.

Dư luận Đức nức nở ngợi ca Obama, với tỷ lệ tin tưởng còn cao hơn cho Gore và Kerry: 72%. Một đại trí thức Pháp là Bernard Henry Levy thì không ngần ngại viết thẳng vì sao ông ta ủng hộ Obama.

Nếu Nghị sĩ Obahoa này tưởng thật và đứng trên diễn đàn Âu Châu mà quạt ngược về Mỹ để tranh thủ cử tri Hoa Kỳ, ông sẽ khiến Âu Châu sướng rêm, nhưng có khi thất cử. Từ Âu Châu, ta nên nói về chuyện bầu cử đó.

Nếu chỉ nhìn vào diện mạo và chương trình tranh cử của John McCain, cử tri sẽ chọn Obama, dù không với tỷ lệ áp đảo của cử tri Âu Châu. Nhưng, khốn nỗi Obama lại là... Obama và chương trình tranh cử lắc lư ngoắt ngoéo của chàng là lợi thế mạnh nhất của McCain. Cho nên, kết quả bầu cử tại Mỹ sẽ lại là một bất ngờ nữa, cho dân Âu Châu.

Họ không tin vào điều ấy vì trên lá tử vi chính trị của McCain, ngần ấy hung tinh đều đắc địa: 1) dân Mỹ muốn thay đổi, 2) thiên về đảng Dân Chủ với tỷ lệ rất cao, 3) muốn có lãnh đạo trẻ có thể vượt qua mọi dị biệt về màu da; 4) và có khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế trước mắt. McCain không thể thỏa mãn ngần ấy ước mơ, vậy mà Obama chưa thể bung quá 50% và vẫn cứ ngang ngửa McCain mới là chuyện lạ.

Trong ba năm làm Nghị sĩ trong Ủy ban Ngoại giao Thượng viện, Obama chưa hề đặt chân tới Afghanistan, thực địa sáu năm của cuộc chiến đầy gai góc gian khổ; chàng chỉ một lần ghé qua Iraq. những 900 ngày về trước; không gặp riêng Tư lệnh chiến trường Iraq - Tư lệnh tân nhậm của Quân khu Trung ương CENTCOM nên sẽ chỉ huy cả hai chiến trường - là tướng David H. Petraeus, hầu có thể hỏi thêm về tình hình tại chỗ.

Khi cần tìm hiểu thì chàng lại biến chuyến du học thành màn tranh cử ngược từ hải ngoại về quốc nội. Và được dân Âu Châu tung hô! Gần như được dân Âu Châu công kênh trên vai để dạy dỗ nước Mỹ. Trong khi ấy, Obama còn khiến Thủ tướng Đức phật ý, bà từ chối việc Obama xuất hiện trước cổng Brandenburg của thủ đô Berlin! Phải chi Obama biết tránh qua một bên, là đứng trên bậc thềm của toà Đại sứ Hoa Kỳ - công thự mới khai trương ngay trước cổng Brandenburg - để nói về nước Mỹ!

Cho nên, nếu cử tri Hoa Kỳ lại bỏ phiếu khác với cử tri Âu Châu - nhiều phần là như vậy - quan hệ Mỹ-Âu sẽ không được hàn gắn. Mà sự kiện đáng tiếc này không thuộc trách nhiệm của McCain! Nếu khéo xử, McCain nên nhắc nhở dân Mỹ là Âu Châu và Hoa Kỳ không nên nhìn vào mặt nhau như đối thủ, mà nên cùng nhìn về một hướng.

Như Bush đã nói bảy năm về trước! (080721).

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.