Hôm nay,  

Bước Chân Lịch Sử

28/10/200900:00:00(Xem: 12929)

Bước Chân Lịch Sử

Huệ  Trân
Tuần lễ cuối của tháng 10/2009, một tấm hình trên trang nhất của tờ Việt Báo đã bập bùng trong tôi hình ảnh bi hùng của một đêm tháng 5 năm 1977 tại thành phồ Kralow, nước Ba Lan.
Lịch sử thế giới đã mô tả thế chiến thứ hai như là một địa ngục trần gian, không một dân tộc nào không bị đọa đầy, tàn sát. Đất nước Ba Lan được nhận định là chịu nhiều thảm họa nhất, về cả nhân mạng lẫn tài sản.
Cuộc bầu cử gian lận ngày 19 tháng giêng năm 1947 đã đẩy toàn dân Ba Lan vào cuộc sống lầm than, bị tước đoạt nhân quyền và dưới sự kiểm soát hà khắc của một tập đoàn nhà nước đã thần phục Cộng Sản Nga Sô.
Cuộc tranh đấu bất bạo động suốt ba thập niên của dân chúng Ba Lan đã để lại biết bao kinh nghiệm đắng cay, bi thảm mà trong đó không bao giờ thiếu vắng những vị lãnh đạo tôn giáo. Bất kỳ dưới chế độ hà khắc, áp bức nào, giới tu sỹ luôn có mặt với dân chúng để cùng chịu chung sự khủng bố, tù đầy, chết chóc. Những năm tháng đó, Hồng Y Szefan Wyszynski, tổng giám mục Ba Lan, dù khi ở trong tù hay sau khi được thả, không khi nào không cùng nói lên tiếng nói với các thành phần trí thức, sinh viên, công nhân, đại diện toàn dân Ba Lan đòi hỏi tự do và nhân quyền.
Ngày 7 tháng 5 năm 1977, người ta nhìn thấy một xác chết, bị đập bể sọ, nơi góc cầu thang dẫn lên một chung cư. Đó là xác sinh viên Stanislaw Pyjas, 23 tuổi, sinh viên ban triết học trường đại học Kralow. Anh là thủ lãnh sinh viên đoàn, người đã vận động sinh viên các trường ký thỉnh nguyện thư gửi Quốc Hội, tố cáo nhà nước đã vi phạm trầm trọng những quyền căn bản của con người.
Hôm ấy, tiếng chuông trong khắp các giáo đường, các trường học đều đồng loạt ngân vang …. ngân mãi …. ngân suốt dọc đường bất tận mà bạn bè và dân chúng đưa Pijas đến nghĩa trang. Tiếng chuông gọi hồn dân tộc đó dù chấm dứt trong không gian nhưng không chấm dứt trong lòng người nên đêm ấy, cũng trong đêm ấy, khi màn đêm buông xuống là lúc thành phố Kralow chập chờn di động trong muôn ngàn ánh nến lung linh. Ban đầu, người ta ước lượng khoảng 5000 sinh viên , cầm nến trên tay và thầm lặng tiến về trung tâm Royal Castle. Nhưng sự kỳ diệu đến rợn người đã diễn ra bất ngờ khi mỗi căn nhà đoàn sinh viên đi qua là mỗi cánh cửa mở rộng, và người trong nhà, cũng như thế, nến trên tay và thầm lặng nhập đoàn.
Cả một thành phố thầm lặng bước trong đêm, dưới ánh nến bập bùng, nhưng chắc đã soi tỏ tận địa ngục A-Tỳ!
Hôm nay, tấm hình trên Việt Báo với hàng trăm tu sỹ và dân chúng Tây Tạng lưu vong, cùng thắp nến tại ngôi chùa Boudhanath Stupa, thuộc ngoại ô Kathmandu, Nepal để phản kháng Trung Quốc vừa kết án tử hình bốn người Tây Tạng, đã khiến tôi liên tưởng tới đêm bạch lạp kỳ diệu năm xưa.
Cái lý do ghi chú trên tấm hình này tuy chỉ là cầu nguyện và lên tiếng cho bốn người Tây Tạng nhưng chúng ta đều biết, đây là tiếng nói u uất từ nhiều thập niên, cất lên cho đất nước Tây Tạng đã bị Trung Quốc xâm chiếm, cho toàn dân Tây Tạng đã bị Trung Quốc áp bức và mưu đồ đồng hóa.
Đường xe lửa nối liền Hoa Lục và Tây Tạng đang ồ ạt đưa người Hán vượt biên hợp pháp, đem theo hành trang ngũ trược cồng kềnh với rắp tâm bôi xóa giá trị đạo đức căn bản của một xứ sở bốn mùa trầm lắng tiếng chuông ngân. 


Nền văn hóa Tây Tạng luôn nằm trong những dự án thẳng tay tiêu diệt của Trung Quốc vì kẻ xâm lược biết, văn hóa mất là dân-tộc-tính mất theo. Dân-tộc-tính không còn thì còn chi dân tộc!
Làm thân phận nhược tiểu luôn bị kẻ lớn hiếp đáp thì điều tiên quyết phải giữ, là nền văn hóa đặc thù. Tự ngàn xưa, Quan Phục hầu Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo:
“ … Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng văn hiến đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác …”
Rồi những thời bị đô hộ nhục nhằn, Bắc phương cũng không ngừng bắt dân ta cạo răng trắng, bện tóc đuôi sam, đội nón vải tròn, khiến đại đế Quang Trung Nguyễn Huệ từng phải thét vang:
“Đánh cho răng đen, đánh cho dài tóc, đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho Nam Quốc sơn hà tri hữu chủ”
Trung Cộng xâm chiếm và đàn áp Tây Tạng trước mắt thế giới!
Thế giới vẫn còn lương tâm nhưng sao không ngăn chặn, không lên tiếng bênh vực"
Thế giới từng cảm phục, chứng kiến hình ảnh người sinh viên trẻ Tây Tạng, tên Thupten Ngodup tự tẩm xăng, phựt lửa trên thân mình, chạy ra giữa phố chính ở New Delhi, nơi sẽ sửa soạn đón một lãnh tụ Trung Quốc mà cảnh sát đang thẳng tay giải tán đoàn người Tây Tạng tuyệt thực đòi độc lập. Đúng lúc đó, cây-đuốc-sống xuất hiện bất ngờ, dùng tàn lực hô lớn “Độc lập cho Tây Tạng!” rồi chạy xuyên vào đám đông khiến cảnh sát không thể chặn nổi anh. Với lửa phừng phừng trên da thịt, anh cứ lảo đảo vừa chạy vừa hô “Độc lập cho Tây Tạng! Độc lập cho Tây Tạng ….” Cho đến khi kiệt lực, ngã quỵ với hai tay chắp trước ngực.
Ngay cả phút cuối của đời sống, anh cũng dành động tác sau cùng để cầu nguyện cho quê hương, cho dân tộc.
Lịch sử không bỏ sót một điều gì. Thiện, ác luôn còn đó, không mặt nạ nào tồn tại để che đậy mãi được.
Một Đức Như Lai giác ngộ, năng lượng từ bi lập tức thấm nhuần khắp đại địa.
Một đấng anh hùng khai sinh, lập tức tinh anh hào kiệt soi sáng bao hậu thế.         
Nhất điểm hoa mai nhụy
Tam thiên thế giới hương (*)
Hai câu thơ chỉ có mười chữ thôi mà nức lòng chi lạ!
Hoa mơ một chút nhụy
Ba nghìn thế giới thơm (**)
Hôm nay, tôi không đọc thêm tin tức gì, chỉ ngồi lặng, nhìn mãi tấm hình những tu sỹ và dân chúng Tây Tạng lưu vong, uất nghẹn và nhẫn nhục thầm lặng thắp nến cho những mất mát đau thương của quê hương, dân tộc.
Tôi ngồi yên, và nhìn mãi, nhìn cho thấy tấm hình lột xác, những người trong hình đang di động, đang đi ngang từng căn nhà, từng thành phố, từng quốc gia ….
Tinh thần tranh đấu bất bạo động của dân tộc Ba Lan khi xưa có bùng lên ánh lửa nào, để những căn nhà, những thành phố, những quốc gia mà người Tây Tạng đang thắp nến đi qua sẽ mở cửa, mở cửa …. Không cần làm gì nhiều, chúng ta chỉ thắp một cây nến, mở cửa, và thầm lặng nhập đoàn cùng họ. Một nhà, một thành phố, một quốc gia sẽ thành mọi nhà, mọi thành phố, mọi quốc gia….
Chỉ thế thôi.
Chúng ta thắp nến cho Tây Tạng.
Chúng ta thắp nến cho Việt Nam.
Chúng ta thắp nến cho bất cứ nơi nào mà nhân phẩm và tự do bị chà đạp.
Chúng ta bước theo lời Phật dạy, lời Chúa ban.
Chúng ta theo dấu chân Mohandas Karamachand Ganhdi của phương đông, Martin Luther King của phương tây.
Toàn thế giới sẽ cùng bước những bước chân lịch sử cho hạnh phúc nhân loại.  
Huệ  Trân
(Đường về một mình, tháng 10/2009)
(*) Thiền Tâm cửu tập
(**) Nhật Chiêu dịch 

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.