Hôm nay,  

Một Bà Mẹ

02/05/201100:00:00(Xem: 8707)

Một Bà Mẹ

Đỗ Văn Phúc dịch
(Truyện cổ tích của Hans Christian Andersen)
Kính tặng các bà Mẹ nhân ngày Mothers Day 8/5/2011
Có một bà mẹ đang ngồi âu sầu bên đứa con nhỏ. Bà rất buồn vì con bà đang hấp hối, em bé xanh xao đã nhắm nghiền đôi mắt thơ và lồng ngực đang thoi thóp những hơi thở cuối cùng. Thỉnh thoảng em rền rỉ qua hơi thở thều thào, bà mẹ cúi sát tận mặt em mà lòng se thắt đau đớn vô cùng.
Bổng có tiếng gõ cửa. Một ông lão nghèo khổ bước vào. Người ông trùm kín trong tấm chăn mà người ta chỉ dùng khoác cho ngựa. Bên ngoài trời rất lạnh, tưởng chỉ có thứ chăn này này mới đủ che ấm tấm thân già. Băng tuyết xuống đầy, phủ kín cả một vùng; những cơn gió như những lằn dao cắt vào da thịt. Ông già bước vào, run cầm cập. Thấy con đang ngủ thiếp đi, bà mẹ nhen lửa hâm chút rượu. Ông lão ngồi xuống đu đưa đứa bé với tiếng ru buồn. Bà mẹ ngồi vào chiếc ghế cạnh ông lão, nhìn con đang thoi thóp mà hỏi:
- Liệu có sao không hả cụ" Đức Chúa lòng lành có bắt nó đi không cụ"
Ông lão lắc đầu, chẳng ai hiểu rõ là cách trả lời hay biểu hiện sự bất lực. Bà mẹ gục đầu khóc nấc lên. Em bé đã qua ba ngày hấp hối và bà thì đã kiệt sức lo lắng tho con, không hề chợp mắt được một giây, Ba thấy đầu óc trĩu nặng và thiếp đi một chốc. Cơn rét làm bà rùng mình thức dậy. Không thấy con và cả ông già, bà la thét lên:
-Trời ơi, cái gì thế này" Con tôi đâu rồi"
Cộp! Một tiếng động vang dội trong nhà. Chiếc đồng hồ quả lắc vẫn từng gõ nhịp nay ngưng lại, quả lắc rơi bộp xuống sàn nhà. Bà mẹ đáng thương vùng chạy ra khỏi nhà, miệng gọi tên con không ngớt. Một bà cụ mặc áo đen đang ngồi trên đống tuyết chặn bà lại và mách:
-Tôi thấy thần Chết vào nhà bà và mang đứa bé đi mất. Lão ta chạy nhanh hơn gió. Một khi lão đã mang đi thì chớ hòng lão mang trả lại.
Bà mẹ thiểu nảo khẩn cầu:
-Cụ ơi, xin vui lòng chỉ cho tôi biết đường nào mà đi tìm lão.
-Đồng ý, nhưng bà phải hát cho ta nghe một bài mà bà từng hát ru con để đổi lấy sự chỉ đường của ta. Ta từng nghe nhiều bài hát, nhưng chỉ thích nghe giọng bà hát cơ. Ta là thần Đêm, từng ở bên bà và nghe bà hát ru con não ruột, chan hoà nước mắt.
Bà mẹ lại năn nỉ:
-Tôi xin hát đây, hát bất cứ gì cụ muốn nghe, nhưng cụ phải chỉ đường cho tôi đi tìm thần Chết đòi lại con tôi.
Bà mẹ hát, lời ca làm não lòng người, nước mắt bà chảy dài chan hoà trên hai gò má gầy. Bà vừa hát vừ nức nở, nấc lên từng hồi. Thần đêm nghe xong bèn chỉ đường:
-Ta thấy thần Chết mang con chị biến vào khu rừng tối kia. Cứ đi theo hướng đó mà tìm.
Bà mẹ lao vào bóng đêm theo hướng thấn Đêm vừa chỉ. Đến một ngả ba giữa rừng già, bà phân vân không biết nên theo lối nào. Bà hỏi một bụi gai bên đường đang trơ trọi những cành khô bám đầy tuyết:
-Gai có thấy thần Chết mang một đứa bé chạy qua đây không"
-Thấy, có thấy, nhưng bà phải ôm tôi vào lòng, ấp cho tôi được chút hơi ấm rồi tôi chỉ đường cho. Tôi lạnh cóng gần chết đây.
Bà mẹ không ngần ngại kéo bụi gai ôm sát vào ngực mình. Những cây gai nhọn đâm vào khuôn ngực trắng mịn của bà, đau điếng, màu từ tim bà nhỏ giọt nhưng bà cố nén cơn đau. Cành gai thấm máu trở nên tươi tốt, đâm chồi trổ ra những bông hoa đẹp.
Nhờ bụi gai chỉ lối, bà mẹ đến một hồ lớn. Nhưng bà không tìm thấy một chiếc thuyền để đi qua bờ bên kia. Mặt hồ đã đóng thành một lớp băng, nhưng quá mỏng để có thể bước lên đó. Hồ thì lại quá sâu, khó lòng lội qua được, nhất là nước lạnh giá. Nhưng bà quyết lòng phải vượt qua, bà cúi xuống uống dần nước hồ. Đúng là việc làm chẳng thể nào thành được, nhưng biết làm sao, lòng thương con vô bờ làm cho bà mẹ không suy tính lý lẽ nữa. Bà chỉ cầu xin Thượng đế sẽ làm một phép mầu như Người đã từng ban cho nhân loại trong những phút giây khổ đau cùng cực.
Hồ nước thấy thế, khuyên bà:
-Bà không uống cạn được nước hồ đâu, đừng làm chuyện điên rồ. Này nghe ta bảo, chúng ta trao đổi với nhau đi. Ta thì khoái chơi ngọc, mà bà thì có đôi mắt long lanh đẹp tuyệt, có giá trị hơn cả những hòn ngọc trong suốt. Bà hãy khóc đi, khóc cho đến khi nào vơi nước mắt và hai con mắt bà sẽ rơi xuống. Cho ta đôi mắt ấy, ta sẽ đưa bà đến tận nơi ở của thần Chết. Đó là một khu vườn ươm hoa mà mỗi cây hoa là một linh hồn con người đã do thần Chết mang về.
Bà mẹ nức nở:
- Tôi có tiếc điều gì của tôi đâu, chỉ mong tìm thấy con thôi.
Thế là bà khóc, nước mắt tuôn rơi dầm dề cho đến lúc đôi mắt đẹp theo giòng nước mắt rơi xuống tận đáy hồ và hoá thành hai hòn ngọc tuyệt đẹp. Hồ giữ lời, mang bà đặt vào trong một ngôi nhà lồng kín to lớn. Bà me, nay đã mù, không nhìn được gì xung quanh, nên chẳng thể đoán được đây là đâu.

-Thần Chết ở đâu để ta còn đòi lại con thơ"
Môt bà lão coi vườn bảo bà:
-Thần Chết chưa về đâu. Làm sao bà có thể vào tận đây được"
-Thượng đế đã đưa ta đến đây vì lòng người khoan ái vô cùng. Bà hãy vì Chuá, tỏ lòng thương xót mà cho ta hay con ta hiện ở đâu.
-Tôi làm sao biết được mặt mũi con bà ra sao. Mà bà thì lại chẳng nom thấy gì. Ở đây có hàng triệu triệu cây hoa, nhiều cây đã chết héo đêm qua, chờ thần Chết về trồng lại. Mỗi gốc cây là một sinh mệnh con người. Hoa ở đây khác hẳn hoa trên trần thế. Mỗi hoa có một trái tim biết đập theo nhịp sống hẳn hoi. Có những cây hoa là linh hồn con trẻ, cũng biết đập nhịp. Bà cứ đi mà tìm, chắc bà sẽ nhận ra nhịp tim của con bà, vì bà là mẹ cơ mà. Nhưng nếu bà muốn tôi giúp cho, thì hãy đền ơn cái gì đi.
- Bà thấy ta còn gì để cho bà chăng" hay ta sẽ theo hầu hạ bà tận cùng nơi thế gian này.
- Ta cần gì nơi tận cùng kia, hãy cho ta mái tóc óng ả của bà, ta thích những sợi tơ vàng óng kia. Đổi lại ta cho bà mái tóc bạc của ta.
Bà Mẹ đồng ý, trao đổi mái tóc vàng óng lấy mái tóc bạc phơ của bà lão.
Họ buớc vào căn nhà lồng kính của lão thần Chết. Trong đó có biết bao muôn vạn cây hoa, đủ lọai, đủ màu. đủ hương sắc. Mỗi cây tượng trưng cho một sinh mạng con người, có cây cho kiếp người bên Trung Hoa, có cây là kiếp người bên Ấn Độ... Có cây xanh tươi mơn mỡn, có cây héo uá khô cằn. Bà mẹ cúi xuống tận từng cây hoa, nghe nhịp tim của chúng, và giữa hàng triệu nhịp tim đó, bà đã nhận ra nhịp tim của con mình.
- Đúng là con tôi đây, làm sao có thể quên được nhịp tim mà mình hằng nghe bao năm dài.
Bà chỉ vào một cây hoa màu xám nhạt, nhỏ bé yếu ớt, thân cây không đủ sức đứng vững, quằn quẹo qua một bên.
- Chớ đụng vào cây. Lát nữa thần Chết trở về, đừng cho thần nhổ cây hoa này. Thượng đế trao cho thần giữ vườn hoa này; mỗi cây hoa còn mạnh là một người trên thế gian còn sức sống. Cây nào yếu là biểu hiện của một người thế gian đang bệnh hoạn, nếu nhổ lên là linh hồn người kia sẽ lìa khỏi thể xác đấy. Bà cứ doạ rằng bà sẹ phá tan vườn hoa này để thần Chết sợ mà làm theo ý bà.
Thần Chết về, mang theo hơi lạnh âm ty rùng rợn. Thấy bà mẹ, thần quát lên hỏi:
- Làm sao ngươi có thể đến đây được"
Bà mẹ vươn ngực dõng dạc trả lời:
- Ta là một bà mẹ.
Thần Chết đưa cánh tay dài chộp lấy cây hoa ốm yếu; nhưng bà mẹ, bằng hết sức mình, ôm kín lấy cây hoa không cho thần Chết đụng vào. Thần Chết hà hơi vào bà, bà cảm thấy lạnh buốt đến tận cùng tủy xương.
Thần Chết doạ bà.
- Ngươi không đủ sức chống lại ta đâu. Chớ dại.
- Thượng đế sẽ tiếp sức cho ta.
- Ta làm theo lệnh Thượng đế, ta chăm sóc khu vườn sinh mệnh này là làm theo ý Người. Ta nhổ cây ở đây là để đem lên trồng trên Thiên đàng cho linh hồn được hưởng cõi hạnh phúc vô biên hằng hữu.
Bà mẹ quỳ xuống van xin:
- Hãy trả lại con ta. Nếu không, ta sẽ nhổ hết cây trong vườn này.
Vừa nói, bà vừa quơ tay vơ lấy một chùm cây.
- Chớ, chớ. Chớ làm thế. Ngươi là một bà mẹ đau khổ, sao ngươi lại muốn làm các bà mẹ khác đau khổ theo ngươi"
Bà mẹ ngơ ngác, bàng hoàng. Những bà mẹ khác" Sẽ có những bà mẹ khác đau khổ vì ta nhổ lên những cây sinh mệnh của con họ sao"
Thần Chết ôn tồn nói:
- Đây là đôi mắt của ngươi, ta thấy chúng long lanh dưới đáy hồ nên vớt lên. Hãy nhận lại đi. Đôi mắt ấy trong sáng hơn xưa nhiều, hãy theo ta nhìn dưới đáy giếng kia, ta sẽ cho biết tên hai trẻ mà ngươi vừa định nhổ đi cành cây sinh mệnh.
Bà mẹ nhận lại đôi mắt, nhìn xuống đáy giếng, thấy từ một trong đoá hoa toả lên niềm hạnh phúc thơ ngây; một đoá hoa khác thì u sầu ảm đạm.
Thần Chết nói:
- Tất cả đều do ý của Thượng đế, ai hạnh phúc, ai trầm luân đều do Người sắp xếp cả.
- Tại sao lại có hoa hạnh phúc, hoa bất hạnh"
- Ta không thể trả lời ngươi được. Nhưng cần biết một trong hai hoa đó là linh hồn của con ngươi, là hình ảnh tương lai của nó.
- Trời ơi! Hãy cho ta biết hoa nào trong hai kia là hoa linh hồn của con ta. Nếu đời nó về sau sẽ đau khổ thì xin hãy mang nó đi, mang nó về chốn thiên đàng cho nó được hưởng chút phúc trời. Xin hãy quên những điều ta đã nói ra, xin hãy quên cả những dòng nước mắt khổ đau của ta.
Bà quỵ xuống chìa đôi bàn tay ra khẩn cầu:
- Xin Thượng đế vô cùng nhân ái hãy rước con tôi về bên người. Xin đừng nghe những lời cay đắng oán than của tôi. Xin hãy thương xót lấy con thơ...
Thế là thần Chết mang đứa bé ra đi, đưa nó đến nơi xứ sở mà bà mẹ ước nguyện.
Bà mẹ gục đầu xuống che dấu niềm đau thương nhưng thầm cám ơn rằng con mình đã được an phần nơi vĩnh phúc.
Michael Do (Do Van Phuc)
webpage: www.michaelpdo.com

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.