Hôm nay,  

Mỹ-Phi Tập Trận

02/07/201100:00:00(Xem: 10575)

Mỹ-Phi Tập Trận

Nguyễn Xuân Nghĩa

chien_ham_phi_gregorio_del_pilar-large-contentCách ứng xử của Phi Luật Tân trước sức ép Trung Quốc...

Trung tuần Tháng Tư vừa qua, trước Diễn đàn Bác Ngao (Boao Forum) được tổ chức hàng năm tại thành phố Tam Á của đảo Hải Nam, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào của Trung Quốc đã trình bảy quan điểm của Bắc Kinh về an ninh Châu Á: Trung Quốc không có tham vọng bá quyền, mong muốn các nước Á châu cùng hợp tác cho công cuộc phát triển chung của toàn khu vực. Tam Á là thành phố nằm ở vùng cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc.

Vài ngày sau, hôm 20 Tháng Tư, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Kinh là Trương Chí Quân đến Việt Nam gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Hà Nội và đôi bên "nhất trí" về quy tắc ứng xử tại biển Đông, trong đó có vấn đề tranh chấp chủ quyền ngoài lãnh hải. Người ta không rõ chi tiết về những cam kết này, ngoài việc nhắc lại quy tắc hành xử đã thoả thuận giữa Trung Quốc và Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á năm 2002 và những thoả thuận song phương năm 2008, nhân chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Nguyễn Tấn Dũng.

Hai tháng sau, ngày 25 Tháng Sáu, Thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội là Hồ Xuân Sơn gặp lại Thứ trưởng Trương Chí Quân và hội kiến Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc – nhân vật lãnh đạo chính sách đối ngoại của Trung ương đảng Cộng sản Trung Hoa. Đôi bên cũng lại ra thông cáo chung về tinh thần hợp tác ôn hoà giữa hai nước.

Ở giữa hai lần gặp gỡ là những biến động ngoài Đông hải, thật ra khởi sự từ Tháng Ba, với việc Trung Quốc bảy lần uy hiếp Phi Luật Tân và ba lần khiêu khích Việt Nam. Chúng ta không nên ngạc nhiên về sự lật lọng của Bắc Kinh. Mà nên tự hỏi về mục tiêu của lãnh đạo Hà Nội.

Đáng chú ý là trong khi Hà Nội gửi người đi Bắc Kinh dàn xếp chuyện song phương, Manila chuẩn bị cuộc tập trận hàng năm với Hải quân Hoa Kỳ. Đó là chuyện nên tìm hiểu....

Ngày 28 vừa qua, hải quân hai nước bắt đầu tập trận trên vùng biển ngoài khơi Tây-Bắc của đảo Palawan. Ba chiến hạm Mỹ cùng 800 thủy binh Hoa Kỳ sẽ thao dượt với 300 lính thủy và một chiến hạm Phi Luật Tân. Gọi tắt là CARAT (Cooperation Afloat Readiness and Training) cuộc tập trận sẽ kéo dài 11 ngày, và được thông báo là nằm trong khuôn khổ của Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương hai nước đã ký kết từ năm 1951 – cách đây 60 năm.

Manila đã hai lần chính thức phản đối Bắc Kinh về hành động uy hiếp này và vừa trang bị thêm võ khí – mua tầu tuần duyên hạng Hamilton của Hoa Kỳ và đang tu bổ lại thành chiến hạm BRP Greorio del Pilar - vừa kêu gọi thế giới quan tâm đến rủi ro xung đột trong khu vực

Bắc Kinh lập tức phản ứng. Hôm 29, phát ngôn viên bộ Quốc phòng Trung Quốc lên tiếng trong một cuộc họp báo, rằng "hợp tác quân sự Mỹ-Phi không nên nhắm – hoặc đe dọa quyền lợi của - một nước thứ ba nào đó". Nhân đó, Bắc Kinh cho nhắc lại lập trường của mình: Hoa Kỳ nên đứng ngoài cuộc tranh chấp trên vùng biển Hoa Nam – South China Sea, hay Trung Nam Hải.

Trước sức ép của Trung Quốc, người ta nhìn ra hai cách ứng xử khác nhau, của Việt Nam và của Phi Luật Tân. Hà Nội đi tìm giải pháp song phương với Bắc Kinh, Manila nhích về phía Mỹ và muốn quốc tế quan tâm hơn đến tình hình Đông Á.

Trong 10 quốc gia Đông Nam Á – có thể là ngoại trừ hai nước tý hon là Singapore và Brunei – Phi Luật Tân là quốc gia hải đảo có lực lượng hải quân yếu kém nhất.

Thí dụ như cho cuộc thao dượt CARAT đang tiến hành, Hoa Kỳ đưa tới hai khu trục hạm trang bị hoả tiễn là USS Chung-Hoon và USS Howard và một tầu cứu hộ thuộc loại khinh tốc đỉnh là USNS Safeguard. Phía Phi Luật Tân có chiến hạm BRP Rajah Humanon. Thật ra, đây là hộ tống hạm USS Atherton có mã số DE-169 của Hoa Kỳ, hạ thủy từ năm 1943, đã tham gia Thế chiến II trước khi được bán lại cho Hải quân phòng vệ Nhật Bản rồi cho Phi Luật Tân. Và Phi Luật Tân có bảy chiến hạm loại đó, đều xuất phát từ kho chiến cụ Hoa Kỳ đã sử dụng từ Thế chiến II.

Theo quy luật "khoẻ dùng sức - yếu dùng mưu", Phi Luật Tân đang dùng mưu để mượn sức người khác. Mà chuyện này mới chỉ xảy ra từ đầu năm thôi.

Trước đây, dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal-Aroyo, Manila muốn thoả hiệp với Bắc Kinh - có thể là do ảnh hưởng khá mạnh của giới tài phiệt người Phi gốc Hoa – và năm 2005 còn tham gia giải pháp do Trung Quốc đề nghị là cùng hợp tác để thăm dò tài nguyên ngoài khơi và đẩy lui việc tranh cãi về chủ quyền vào tương lai 50 năm tới. Đến năm 2008 Manila mới thấy là bị hố và tìm cách tháo lui mà không dám mạnh miệng phản đối sự lấn lướt của Trung Quốc. Khi Benigno Aquino III (con trai của ông Benigno Aquino Jr. và bà Corazon Aquino, nữ Tổng thống đầu tiên sau vụ lật đổ chế độ Marcos năm 1986) được bầu lên làm Tổng thống từ Tháng Sáu năm ngoái, Manila xoay chuyển lập trường. Và ngay nay, trước đà bành trướng của Trung Quốc, họ trở lại với Hiệp định Phòng thủ 1951.

Nhưng dù là ở xa Trung Quốc, Phi Luật Tân cũng rát mặt với sức ép Thiên triều và muốn mượn sức Hoa Kỳ để có tiếng nói mạnh hơn. Từ đầu Tháng Sáu, Manila tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ tôn trọng những cam kết trong hiệp định song phương và sẽ bảo vệ một đồng minh bị uy hiếp. Sau đấy, khi viếng thăm Thủ đô Washington của Mỹ, Ngoại trưởng Phi là Albert del Rosario vừa mới phát biểu rằng vụ tranh chấp chủ quyền tại Đông hải có nằm trong phạm vi xử lý của Hiệp định 1951.

Trước lời kêu cứu đó, Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Phi Luật Tân, sẽ cung cấp phương tiện tăng cường khả năng phòng vệ cho xứ này, mà tránh không trả lời về phạm vi áp dụng của Hiệp định. Lập trường chính thức là Mỹ không phân xử chuyện chủ quyền của các nước trong khu vực, nhưng chủ trương bảo vệ quyền tự do lưu thông trên các dòng hải lưu của quốc tế.

Nhìn trên toàn cảnh, ta thấy là vì quyền lợi sinh tử của mình, Hoa Kỳ cần hiện diện tại Đông Á và đang chuẩn bị trở lại khu vực. Nhưng sau khi tuyên bố như vậy từ năm ngoái, siêu cường này còn bị vướng bận quá nhiều chuyện nên chưa thể làm gì hơn mà cũng không muốn trực diện đối đầu với Trung Quốc. Cho nên vẫn chỉ là cách trả lời nước đôi, lại còn bán được võ khí.

Manila cũng biết vậy chứ không hoàn toàn phó thác sinh mệnh vào tay Hoa Kỳ.

Trong trường kỳ, là mươi mười lăm năm tới, xứ này phải quan niệm lại quyền lợi về kinh tế và an ninh trên vùng biển tiếp cận với hướng Tây của lãnh thổ. Phi Luật Tân còn có một ưu thế rất đáng chú ý là hiện đang có 500 binh lính và huấn luyện viên Hoa Kỳ hiện diện trên lãnh thổ. Chẳng để chiếm đóng mà chỉ để giúp Phi canh chừng khủng bố.

Khi tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ, trước nhất là qua biểu hiện quân sự, Manila có một cường quốc đứng bên để nâng cao tiếng nói của mình. Người ta không tin rằng Phi Luật Tân sẽ dựa thế Hoa Kỳ để khiêu khích Trung Quốc – lãnh đạo xứ này thật ra không dại. Nhưng với Hiệp định Phòng thủ trong tay, xứ này còn có nhả năng chống trả mỗi khi bị uy hiếp như người ta đã thấy từ Tháng Ba.

Hà Nội thì tính kiểu khác.

Chúng ta chưa biết kết quả ra sao vì mọi việc đều được giữ kín. Mà lãnh đạo còn kềm chế phản ứng của người dân vì sợ phản ứng bài Hoa sẽ biến thành chống chế độ, hoặc kêu đòi dân chủ.

Nhìn trong lâu dài thì Phi Luật Tân đã có nỗ lực xây dựng dân chủ - từ khi Ferdinand Marcos bị lật đổ vào năm 1986 tới nay, xứ này đã bầu lên năm đời Tổng thống – và cũng do mối quan hệ với Hoa Kỳ mà phải thực thi dân chủ. Ngày nay, nhờ mối quan hệ đó xứ này có nhiều giải pháp chọn lựa hơn. Việt Nam chưa được như vậy!

Cho nên lại gặp rủi ro lớn hơn.

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.