Hôm nay,  

Cổng Xóm Năm

23/04/201200:00:00(Xem: 19574)
Lúc hai cái xe mười bánh nối đuôi nhau chạy vụt qua, bụi đỏ bốc bùng lên, bên này ngó bên kia không thấy gì hết. Bà Mợ Năm lom khom bước ra khỏi ngưỡng cửa, nheo hai con mắt lại, quay về hướng chợ miệng lầm bầm gì đó nghe không rõ. Con Sượng đang ngồi trên ghế bố thõng hai chân xuống đong đưa qua lại lớn giọng nói vọng ra:

- Bà mợ ở đó mà ngóng. Nó đi chút xíu, nó dià chớ mắc mớ gì. Thây kệ nó.

Nó nói mà con mắt cũng hướng về hướng chợ. Thiệt tình thì nó cũng nóng lòng thằng anh. Ở ngoài chợ chắc người ta xôn xao lộn xộn lắm, súng lâu lâu nổ đẹt đẹt. Hình như có một chuyện gì đó, khác hơn mọi hôm. Hồi sáng, anh nó, thằng Sùng đi la cà ở đâu, chút chút tọt về, nói đủ thứ chuyện. Nói người ta chen nhau đi đò xuống An Thới, nói mấy người lính Địa Phương Quân cãi lộn với Cảnh Sát Dã Chiến ngoài cầu Quan Thuế, nói giặc gần đánh tới chợ rồi…

Bà mợ Năm trở vô, gỡ cái khăn trên đầu, đập phạch trên cái ghế xấp, điệu bộ chán ngán. Bà nói với con Sượng mà như nói một mình:

- Ở ngoài lộn xộn lắm, nó đi mua mấy con cá mà mắc cái giống gì cả tiếng đồng hồ chưa thấy dìa.

Nói rồi co một chân lên ghế, tiếp tục ngó ra đường. Con Sượng từ sau cái hôm bị miểng đạn pháo kích ghim vô ống chân, mổ lấy ra rồi mà vẫn phải ở đâu ở một chỗ, nó sanh ra bực mình với bất cứ chuyện gì. Thấy bà Mợ nẫy giờ càu nhàu hoài cái chuyện thằng Sùng đi lâu quá không về, nó dài giọng:

- Bà Mợ lo cho nó cái gì mà lo dữ vậy. Bộ nó đi lâu như vậy là nó chết chắc.

- Mày biết cái giống đách gì. Bà mợ Năm quay qua con Sượng. Tao sợ nó nghe người ta rủ ren rồi nhẩy lên xe, lên ghe đi theo đó chớ…

- Đi đâu, bà mợ nói nó đi đâu?

Bà mợ Năm biết mình lỡ lời, quay qua chỗ khác. Bà thấy khó mà giải thích cho con này biết được cái nỗi lo của mình. Hồi lâu, bà hỏi:

- Mày đói bụng chưa? Tao luộc hột vịt mày ăn cơm nghe. Tao cũng muốn ăn cho rồi.

- Luộc thì luộc. Ăn thì ăn. Mà còn chờ thằng Sùng về ăn luôn. Bà mợ muốn ăn trước thì ăn.

Bà mợ Năm ngồi yên ngó ra đường. Hai dẫy tiệm tạp hoá bữa nay chỉ có một gian của Chệt Hí là mở cửa nhưng không thấy ai mua bán gì hết. Chiếc xe lam của ông Thạch Ký cũng đâu mất. Con Sượng trườn người kéo cái gối để lên đùi, hỏi nhỏ:

- Phải giặc đánh gần vô tới chợ rồi không bà Mợ? Làm như ai cũng muốn đi khỏi chỗ này hết vậy?

Bà Mợ Năm không đáp, lơ đãng ngó qua cái cửa sổ bên vách. Bên kia là ổ chứa. Con mẹ Sáu sáng nay không thấy mắng chửi ai hết. Bộ hết khách hết khứa rồi đâm ra buồn chắc. Mấy con điếm cũng không thấy ngồi hàng ba ca vọng cổ nữa. “Tụi này là qủi, tối ngày sáng đêm nó hiện lên nó báo cả xóm không ngủ được với nó. Ít bữa là có đánh lộn, ít bữa là có bắn lộn. Ở ngay cái cổng Xóm Năm này, mình có ngày chết vì bệnh đau tim…”

Bà Mợ Năm bỏ ghế đứng dậy đi lần về phía bàn thờ. Trời bên ngoài chói chang nắng mà trong góc nhà tối mò. Bà lôi ra bộ đồ nghề ăn trầu và bưng trở lại ghế, chưa ngồi yên chỗ mà mắt đã ngó ra đường.

Một chiếc xe Jeep quen thuộc chạy ngược về hướng phi trường, tài xế vẫn là hạ sĩ Đức, đệ tử của tiểu đoàn phó tiểu đoàn 506. Ngang qua cái cổng xóm Năm, rõ ràng bà thấy hạ sĩ Đức quay đầu ngó vô nhà “con mẹ Sáu,” lại còn bóp còi hai ba cái.

Tự dưng, bà thấy ghét cái bản mặt rỗ chằng rỗ chịt của nó. Non nước này mà còn ghẹo còn chọc mấy cái thứ dơ dáy đó!”

Bà vừa mở nắp giỏ trầu, cúi đầu loay hoay têm, vừa nói với con Sượng:

- Mày có biết bữa nay là bữa lính quốc gia đầu hàng không?

- Vậy hả bà Mợ.

- Ừ! Ông Quận đi máy bay trực thăng, bay ra biển rồi…

- Vậy hả bà Mợ.

Bà Mợ Năm chép miệng ngồi yên. Những điều bà biết được lúc ghé qua chùa Phước Thiện bổ thuốc, nói lại cho con Sượng nghe hết, mà sao nó không mấy ngạc nhiên.

Trong một lúc các ý nghĩ bị kéo dần ra rồi bị buông nhập lại bất ngờ quá, bà mợ Năm quên rằng con Sượng dẫu gì cũng mới mười một mười hai tuổi đầu, nó biết chó gì tới cái chuyện đổi thay to lớn sắp tới, trách nó, bực nó làm sao được.

- Lát nữa bà Mợ đẩy cái ghế bố tới gần cửa, con ngó coi Việt Cộng nó ra làm sao.

- Thì nó cũng giống như mình thôi…

- Nó có đuôi không bà Mợ?

- Bậy, nó cũng giống như mình thôi. Nó bắn mày bị thương đó. Nó bắn bể cây cột đèn trước chùa đó…

- Vậy hả bà mợ.

- Ừ.

Bà Mợ Năm chợt nhớ tợi thằng cháu. “Hổng biết lúc này nó đóng ở đâu. Xui xẻo mà đụng trận mấy cái lúc này thì oan mạng lắm. Cả năm rồi không thấy nó dìa phép…” Con Sượng chợt hỏi:

- Rồi Cậu Ba cũng phải đầu hàng luôn hả bà Mợ?

- Ừ. Bà Mợ Năm đáp nhẹ.

- Cậu Ba nói Cậu Ba đánh giặc hay lắm mà. Cậu Ba nói Cậu Ba ở trên máy bay nhẩy xuống rồi mới bắn, phải không bà Mợ? Rồi Cậu Ba đầu hàng là được dìa đây ở phải không Bà Mợ?

- Ai biết đâu. Mày hỏi nhiều chuyện quá.

Có mấy người lính Dân Vệ quen mặt không biết đi đường nào mà ba lô súng đạn đầy đủ từ trong con đường mòn đi ngược ra cổng, điệu bộ hấp tấp lắm. Tiếng một con điếm nói vọng ta, chói lỗ tai:

- Anh Ba Lành bữa nay đi ngang mà không ghé sao hè!

Mấy người lính không một người nào ngó vô, cũng không thấy đáp lời lại. Bà Mợ Năm nghe tiếng “con mẹ Sáu” lải nhải gì đó với mấy con điếm. Một chút sau, nhạc ở trong radio vọng ra. Người ta ca như hét như la, bà Mợ Năm không nghe rõ được câu nào.

Một tràng súng liên thanh ở đằng hướng chợ cá nổ ròn lằn đạn đi đúng về hướng này, thấp lắm. Bà Mợ Năm nghe nóng hừng hực trong lồng ngực, bà bước vội ra cửa. Một người lính Dân Vệ hấp tấp mở cái dây chạc đầy nhóc băng đạn đặt nhẹ xuống đất, rồi tiếp tục đi. Cạnh đó, cũng có một cái ba lô của ai, no tròn, nằm chỏng gọng. Người ta đi ngang qua, liếc con mắt một cái rồi thôi.

Bà Mợ Năm ngó ngược về phía phi trường, có một vết bụi bốc lên chạy dọc theo con đường đất đỏ từ trong ấp Nùng ra.” Chắc xe nhà binh.”

Bà đứng như vậy thật lâu, cho tới khi chiếc xe nhà binh chạy vụt qua. Trên xe đầy nhóc lính, những cái khăn quàng mầu xanh dương bay phất phới, người đông như vậy mà ai cũng im lặng.

Ở cái cổng, bóng mát của ngọn dừa phía bên trái nhà “con mẹ Sáu” đổ qua đúng về cái mặt tiền ngó ra đường một khoảng lớn, lỗ chỗ. Con điếm tóc bom-bê thường ngày hay mặc áo bà ba đỏ, bữa nay mặc cái áo cánh sát nách đứng dựa ngửa theo chiều nghiêng của cây chống cổng, khoanh tay ngó bâng qươ ra đường. Bà Mợ Năm chợt ngó thấy, hịt mũi, bỏ bộ định đi vô nhà. Có tiếng “con mẹ Sáu”:

- Cái này của ai đây, Gấm?

- Biết đâu! Chắc mấy ông Dân Vệ hồi nẫy.

Bà Mợ Năm ngó qua. “Con mẹ Sáu” đang cúi người hì hục lôi cái ba lô đầy nhóc vô một góc cổng. Với điệu bộ cẩn thận, con mẻ nhắc cái dây ba chạc lên, chầm chậm mang nó đăt cạnh cái ba lô. Hai trái lựu đạn hai bên móc gài đong đưa thấy mà ớn.

Thêm một con điếm nữa ở trong ra, đứng lại một lúc rồi cùng với “con mẹ Sáu” băng qua đường, sấn vô tiệm Chệt Hí, vừa đi vừa ngả ngớn.

Bà Mợ Năm lại ngóng về hướng chợ. “Thằng Sùng nó đi đâu mà kỳ cục quá, biết người ta trông ngóng mà không về sớm sớm.” Có tiếng đàn ông gần lắm:

- Bữa nay lính mình bỏ đồn hết trơn rồi đó nghe bà Năm.

Ông Nghiệp hớt tóc dạo đặt cái hộp đồ nghề xuống, đưa tay quệt mồ hôi mặt, rồi lần túi áo móc thuốc hút. Bà Mợ Năm quay lại:

- Ủa, Chú Tư.

Rồi bà không nói gì thêm nữa. Bây giờ đã có thêm năm bẩy người nữa đứng tụm vô cái bóng mát ở trước cổng, nói chuyện xì xào. Từ hướng phi trường, một hàng lính tiểu đoàn cặp sát lề đường đi như chạy trở ra, người nào cũng có súng. Trong vài phút đồng hồ, kể từ khi bà Mợ Năm nhìn rõ mặt được người lính đầu tiên cho tới lúc họ đi ngang qua cổng, đầu óc bà miên man không rõ được là mình đang nghĩ tới cái gì.

- Ừ, lính mình bỏ đồn thiệt.

- Chớ tui nói chơi với bà Năm sao! Tổng Thống kêu lính mình không được bắn mà…

Bà Mợ Năm nhướng mắt nhìn Tư Nghiệp, giọng nhỏ lại:

- Ở đâu cũng vậy hết sao chú Tư?

- Ở đâu cũng vậy!

“Thiệt tình là ai cũng biết công chuyện nó đã tới nước này, nhưng ai cũng muốn được nghe người khác nói lại, nói hoài…”

Hàng lính đi nỗi lúc một nhiều thêm, hai ba tốp gặp nhau đâu ở gần phi trường rồi kéo ngang qua đây, ngõ duy nhất tuôn ra biển. Mang bảng xanh là ấp Nùng ra, bảng vàng trên đồi trọc, bảng xanh lá cây ở tiểu đoàn, bảng đỏ ở Gành Gió.

Mặt trời dần xế chiều rồi, “không biết lệnh lạc ra làm sao mà lính tới giờ này mới chịu bỏ đồn, chứ ông Quận thì đi hồi sáng sớm.” Ở ngoài đầu cồn, có nhiều loại súng thi nhau nổ, đụng nhau không chừng.

Hàng lính còn dài quá. Bà Mợ Năm chưa muốn trở vô nhà. Bà lách người khỏi Tư Nghiệp, bước hẳn ra đường, ngó cho trọn.

Thiệt là kỳ, hồi nào tới giờ, có khi nàobà cảm thấy cái thị trấn này nó nhỏ lớn ra làm sao đâu. Tự dưng hôm nay, bà biết rõ từng chút những khoảng rừng thưa, những khoảng đồng tranh vao vòng thị trấn.

“Để coi tốp lính mang bảng xanh đi hết rồi là từ bờ sông trái cửa Ấp Nùng ra tới lò rèn “ông quốc quân” bỏ trống, rồi tốp bảng đỏ mà ra tới đây thì cái đuôi ít nhất cũng lọt vô phi trường. Giờ này còn ai dám hẻo lánh tới con rạch chạy vòng chân núi chùa ông Phụng. Ba bốn chỗ bỏ hết, kéo ngang qua đây… Cuộc sống, đối với bà Năm lúc này, rõ ràng mỗi lúc một nhỏ tóp lại.

Làm sao bây giờ? Bà Mợ Năm ngó qua hết thẩy mọi người chung quanh, có vài người quay lại nhưng không ai nói gì cả. “Đông mà yên lặng như vậy cũng ít thấy, chớ không phải chơi đâu!”

Ở cái cổng Xóm Năm, người ta đứng lan ra tới ngoài nắng. Vài người lính nhìn thấy “con mẹ Sáu” thì xà vô, lời qua tiếng lại vẫn với vẻ hối hả. Một anh đeo bảng vàng nói ong ỏng:

- Má Sáu mua cho tụi này ít gói thuốc coi, được hông? Xả láng với nhau cú chót đi…

Rồi hai ba người khác phụ theo, hàng lính tự dưng um xùm lên:

- Chơi cho đẹp đi!

- Có con nữa nghe má Sáu.

- Con nữa…

Bà Mợ Năm quay qua Tư nghiệp:

- Thiệt, hết ai rồi mấy ông nhè con mẹ lủng đó mà xin. Mắc tức cười…

- Ừ. Mấy ổng nói chơi mà!

Bên kia đường đối diện với cổng Xóm Năm, “con mẹ Sáu” bắt đầu lên tiếng. Trong đám hỗn loạn, tiếng con mẻ nghe lồng lộng. Có thêm hai ba con điếm nữa chút xíu chạy vô tiệm Chệt Hí rồi mang ra đủ loại thuốc hút, mì gói, bánh ú.

- “Đứa nào muốn bánh ú thì có nghe. Thằng Thành đây, tao biết mày khoái Bastos Luxe. Tao gởi ít gói cho thằng Biệt, nó đâu rồi? Hộp quẹt hả, chờ chút xíu…Mày lấy cái hộp quẹt có chưa vậy Gấm, cái con qủi cái này…”

Hàng lính ngang qua cổng ít ai không dừng lại. Bà Mợ Năm cảm thấy có một chút gì đó gượng gạo trong thái độ của những người lính, rồi thêm giọng nói thảnh thót của “con mẹ Sáu,” cùng với cái cảnh hỗn tạp mà xót xa quá cho tất cả mọi người hiện diện. Đầu óc như quay cuồng, bà nói với Tư Nghiệp:

- Lính mình bỏ đồn hết rồi.

Thấy Mợ Năm bước vô nhà, con Sượng đang nằm ngồi bật dậy:

- Thằng Sùng dìa chưa bà Mợ?

- Chưa. Mà kệ bà nó.

- Bà Mợ biết nó ở đâu hông?

- Đừng hỏi lảng lảng. Tao nói kệ bà nó!

Có thêm mấy loạt súng nổ ở phía chợ cá, lần này thì đạn bay về hướng khác rồi chắc, không nghe tiếng rít. Bà Mợ Năm kéo cái ghế xếp tới gần cửa nhà, ngồi quay lưng vô, ngó ra ngoài. Lúc này chỉ còn lưa thưa vài người lính mang bảng đỏ cố đi thật nhanh ngang qua nhà. Người ta vẫn còn đứng đầy khoảng đất cát trước cổng.

Tiếng “con mẹ Sáu” bên kia:

- Thằng nào còn một mình ênh ở tuốt đằng kia vậy kìa, giống như thằng Canh. Nó nằm bệnh viện mà, về đồn hồi nào vậy?

Một người lính trả lời lí nhí mấy tiếng xong thì hối hả đi. “Mẹ Sáu” quay qua con Gấm:

- Mầy lấy thêm ít gói Capstan, tao đưa thằng Canh. Tội nghiệp thằng này lắm, nó biết điều…

Bà Mợ Năm nheo mắt nhìn qua bên kia đường, bóng dáng con Gấm xen vô rồi mất hút trong đám người đứng trên thềm tiệm Chệt Hí. Bà quay về hướng phi trường. Người lính, có lẽ là người lính cuối cùng, bệnh hoạn chầm chậm bước, trên người không mang theo gì khác ngoài khẩu súng cầm tay.

Bà im lặng, thở nhè nhẹ. Bà chợt phát giác ở bên kia đường, cả một khoảng đường ở Cổng Xóm Năm, ai cũng im lặng.

Bà Mợ Năm giữ mãi cái thế ngồi đó, miệng cũng thôi nhai trầu, bà không ngó người lính mà ngó xuống vệt nắng, lúc đó, đã xế ra tới giữa đường, như một lằn ranh giữa cái còn và cái mất.

Người lính từ từ đi qua khỏi nhà bà Mợ Năm, cuộc sống từ từ đi qua khỏi nhà Mợ Năm, khỏi cổng Xóm Năm, sau khi ngừng lại một chút ở chỗ “con mẹ Sáu.”

Võ Hoàng

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.