Hôm nay,  

Kẻ Hợm Mình

19/05/201200:00:00(Xem: 19160)
Truyện ngắn của Morley Callaghan - Bản dịch của Đào Văn Bình

Đôi Lời Giới Thiệu:

Morley Callaghan sinh tại Toronto, Canada năm 1903. Ông theo học St. Michaels College, University of Toronto từ 1921-1925. Ông tốt nghiệp bằng cử nhân về nghệ thuật tổng quát và cũng học thêm rất nhiều những môn học khác. Ông cũng làm việc bán thời gian cho tờ Toronto Star Weekly và gặp văn hào Hemmingway tại đây và Hemmingway đã trở thành người hướng dẫn cho Callaghan lúc ban đầu. Mặc dù tốt nghiệp luật khoa năm 1928 nhưng Callagha lại mê viết văn.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên Strange Fugitive của Callaghan xuất hiện năm 1928. Năm 1929 ông ký kết với một nhà xuất bản ở New York để xuất bản một tuyển tập truyện ngắn nhan đề A Native Argosy. Ông lấy vợ và đáp tàu sang Pháp và tại Paris, ông làm bạn với Hemmingway, F. Fitzgerald và James Joyce. Trong một trận đấu quyền Anh giao hữu, ông hạ đo ván Hemmingway và tình bạn giữa hai người không còn được như trước nữa. Morley Callaghan chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các nhà văn theo trường phái tự nhiên của Hoa Kỳ. Những tác phẩm của ông xuất bản năm 1932, 1935, 1936 & 1937 với đặc điểm bàn luận về chủ đề thần học Thiên Chúa Giáo, mô tả nhân vật phức tạp, giải quyết những mâu thuẫn trong tình yêu theo kiểu nước đôi đã khiến ông trở nên một khuôn mặt lớn trong giới văn chương Bắc Mỹ. Ông được khá nhiều giải thưởng văn chương. Ông mất năm 1990 tại Toronto . Hai truyện ngắn nổi tiếng của ông là The Snob và Luke Balwins Vow.

Truyện ngắn The Snob của Callaghan dưới đây cho chúng ta thấy tình cảm rất phức tạp của chàng sinh viên Harcourt ở thập niên 1930 trong một đất nước giàu có, thanh bình Canada. Những tình cảm phức tạp đó có thể đưa tới xung đột, nếu không khéo sẽ gây đổ vỡ. Kính mời quý vị thưởng thúc.

Kẻ Hợm Mình
The Snob

Tại quầy bán sách của khu thương xá, chàng sinh viên trẻ John Harcourt thóang nhìn thấy cha mình. Trong đám đông xô đẩy nhau dọc lối đi, mới đầu chàng không tin chắc lắm, nhưng có những cái mà chàng biết rất rõ - đó là cái màu phía sau cổ của ông già, chiếc mũ nỉ bạc màu. Harcourt đang đứng với một người con gái mà chàng yêu mến để mua sách cho nàng. Suốt buổi chiều chàng đã nồng nàn nói chuyện với nàng nhưng cũng đầy rụt rè và xao xuyến như thể trong chàng vẫn còn ngõ ngàng tự hỏi tại sao nàng lại có thể thật sung sướng khi được đi bên cạnh chàng. Dưới chiếc mũ rơm rộng vành, khuôn mặt của nàng thật đẹp, mạnh khỏe và tỏa ra dáng vẻ đầy tự tin, thường quay qua nhìn chàng và mỉm cười mỗi khi chàng nói điều gì. Hai người thường nói chuyện với nhau như thế và chưa bao giờ dám bạo dạn bày tỏ hết tình cảm của mình. Harcourt cũng vừa mua sách xong, và cũng vừa thọc tay vào túi với một dáng vẻ tự nhiên và sẵn sàng như thể chàng vốn có thói quen mua sách cho các cô - thì ông già đầu bạc với chiếc mũ nỉ bạc màu đang đứng ở đầu quầy chợt quay nửa mình về phía chàng và chàng biết rất rõ mình chỉ còn cách ông cụ có vài thước.

Giọng nói lưu lóat thường nhật của chàng thanh niên bỗng ấp úng rồi trở nên thều thào như thể chàng sợ người chung quanh nghe thấy. Trong chàng dậy lên một một nỗi bực dọc khôn tả, chàng linh cảm thấy một cái gì đó thật quý giá mà chàng đang nắm giữ dường như sắp đổ vỡ. Cha chàng đang đứng thẳng thốn ở quầy trả tiền, ông cụ trầm ngâm lật đi lật lại cuốn sách trên tay. Rồi ông cụ lấy ra cặp kính lão từ cái bao da đã sờn, sửa đi sửa lại trên sống mũi rồi cúi nhìn cuốn sách. Chiếc áo manteau bỏ ngỏ, còn chiếc áo vest thì hai chiếc khuy không cài nút, tóc ông cụ quá dài còn bộ quần áo luộm thuộm khiến ông cụ trông như dân thợ, có lẽ một ông thợ mộc thì đúng hơn. Một nỗi bất bình dậy lên trong chàng khiến chàng muốn đau khổ kêu lên “Tại sao ông cụ lại ăn mặc như thể trong đời chưa bao giờ có một bộ quần áo tốt đẹp? Ông cụ chả để ý gì đến thế giới này đang nghĩ gì về ông cụ. Ông cụ chẳng để ý gì cả. Mình đã nói cả trăm lần là bố phải ăn mặc đàng hòang khi ra đường. Mẹ cũng đã nói như vậy. Ông cụ chỉ nhe răng cười. Và giờ thì Grace có thể thấy ông cụ. Grace có thể gặp ông cụ.”

Vì thế mà chàng Harcourt đứng yên như tượng đá, đầu gục xuống và linh cảm thấy một cái gì đau đớn sắp xảy đến. Chàng xao xuyến liếc nhìn Grace lúc này đã quay đầu lại quầy tính tiền. Trong số khách hàng mặt đỏ gay, người nào người nấy tỉnh bơ, dùng cả cùi chõ, xô đẩy nhau để dành lối đi, Grace nổi bật lên với vẻ đẹp lộng lẫy. Con người nàng tỏa ra một dáng vẻ rất tự tin về sự giao tiếp với mọi người, với mấy người bán hàng, với sách vở nằm trên kệ và với tất cả mọi thứ chung quanh nàng. Đầu vẫn cúi xuống, chàng nhích lại gần nàng thì thào với giọng thật lo lắng, “Mình kiếm chỗ khác để uống trà đi Grace.”

“Chút xíu nữa anh,” nàng đáp.

“Mình đi ngay bây giờ đi.”

“Chút xíu nữa mà anh,” nàng lơ đãng nhắc lại.

“Ở đây ngột ngạt quá. Mình đi ngay bây giờ đi.”

“Sao anh nóng ruột quá vậy?”

“Ở đây chẳng có gì cả ngòai mớ sách cũ trên kệ.”

“Có thể có một số mà em rất cần trong cuộc sống của em,” nàng vừa nói vừa mỉm cười tươi tắn và không hề nhận biết mối lo âu trên khuôn mặt của Harcourt.

Chính vì thế mà Harcourt phải tiến lại phía sau nàng do đó mỗi lúc chàng càng đến gần ông cụ hơn. Có lúc chàng ngửng đầu lên, liếc nhìn qua một bên với vẻ lơ đãng, Còn cha chàng, với khuôn mặt hồng hào, phúc hậu, vẫn yên lặng đọc sách nhưng lúc này dường như trên khuôn mặt của ông cụ có dáng vẻ tự lự như thể trong sách có cái gì làm ông cụ xúc động cho nên ông cụ quyết định đứng lại đó đọc tiếp.

Ông già Harcourt có dư thời gian để vui thú bởi ông đã nghỉ hưu sau khi làm việc cực nhọc suốt cả đời. Ông gửi chàng vào đại học và ước mong chàng rạng rỡ với người ta. Mỗi tối khi trở về nhà, dù sớm dù khuya, chàng thường vào phòng bố mẹ, bật đèn lên để chia xẻ với song thân những gì hay đẹp trong ngày. Cả hai lắng nghe chàng nói và chia xẻ với chàng về một thế giới mới mà chàng đang ngụp lặn trong đó. Cả hai ngồi dậy trong bộ quần áo ngủ, mỗi khi mẹ chàng hỏi điều gì, cha chàng đều chăm chú lắng nghe, đầu nghiêng qua một bên, mỉm cười hoặc chau mày. Tất cả những hình ảnh đó hiện rõ trong tâm trí chàng lúc này thế nhưng có một niềm khát khao và một nỗi đau đớn mỗi lúc cứ đè nặng lên chàng khi chàng sợ hãi liếc nhìn cha mình, nhưng chàng bướng bỉnh cho rằng, “Mình không thể giới thiệu ông cụ với Grace. Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu ông cụ không nhìn thấy hai người. Phải mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Như thế hợp lý hơn. Gặp Grace chỉ làm cho ông cụ thêm lúng túng.” Vào lúc này thì Harcourt biết mình đang xấu hổ, nhưng chàng biện minh cho sự xấu hổ của mình với lý do cha của Grace là người có phong thái lịch sự và tự tin vì suốt đời sống trong một xã hội giàu có và thành công. Thỉnh thỏang khi ghé vào nhà Grace lễ phép nói chuyện với mẹ nàng, chàng không khỏi suy nghĩ về vẻ đơn sơ của nhà mình, về giọng nói tiếng cười xuề xòa, mộc mạc của cha mẹ và chàng quyết định phải làm sao để gia đình Grace nể mặt.


Chàng thận trọng ngước nhìn lên vì hai người chỉ còn cách nhau khỏang ba thước, nhưng vào ngay lúc đó, ông cụ cũng ngửng đầu lên nhưng ánh mắt của Harcourt lại tránh qua một bên, nhìn về phía lối đi, về phía quầy tính tiền, làm bộ như không thấy gì cả. Khi đôi mắt xanh và bình thản của ông cụ chú mục qua cặp mắt kính, có một lúc dường như hai người đã nhìn thấy nhau. Không biết rõ là ai, nhưng khi chàng Harcourt quay lưng và hối hả nói với Grace thì chàng biết rõ là cha chàng đã nhìn thấy chàng. Chàng biết chắc như vậy vì vẻ bình thản trong đôi mắt xanh của ông cụ. Niềm xấu hổ trong chàng trào dâng và nó làm chàng đau khổ khi chàng đứng đó bất động, không biết làm gì cả.

Cha chàng quay lui, đi dọc theo hành lang, bước đi thẳng thốn trong bộ quần áo đã sờn cũ, đôi vai ông cụ giang rộng và không quay đầu nhìn lại. Rồi ông cụ bước xuống đường với dáng vẻ trầm tư mà chàng biết chắc mỗi lúc mỗi trở nên sâu nặng và nghiêm trọng.

Chàng trẻ tuổi Harcourt đứng bên cạnh Grace, khẽ cọ vào đôi vai mềm mại của nàng và thoang thỏang ngửi thấy mùi nước hoa mà nàng dùng. Đó, đứng sát bên mình, nàng là tất cả những gì mà chàng khát khao ôm chặt lấy, nhưng giờ đây chàng chỉ còn thấy một nỗi thù hận ghê gớm khiến chàng ủ rũ cúi mặt và đứng bất động.

“Anh nói đúng đó John,” giọng nàng nhỏ nhẹ và hơi ề à. “Vào ngày nóng nực như thế này ở đây khó chịu thật anh ạ. Giờ mình đi. Nè, có bao giờ anh nghĩ rằng đứng ở khu thương xá lâu như thế này có khi mình trở nên ghét người ta không biết chừng?” Nhưng vừa nói nàng vừa mỉm cười cho nên Harcourt biết chắc rằng nàng chẳng ghét ai cả.
“Em ghét người ta có phải không?” chàng gặng hỏi.

“Ghét người ta? Mà người ta nào? Anh nói gì vậy?”

“Anh muốn nói,” chàng bực tức nói tiếp, “em không thích những người mà em gặp ở đây chẳng hạn.”

“Đâu phải vậy. Mà ai ghét? Anh nói gì vậy?”

“Thiên hạ đều biết rằng em không,“ chàng nói bừa với tất cả sự bực tức để tấn công nàng. “ Anh muốn nói em không thích những người bình dị, chân chất là những người mà em gặp ở khắp thành phố này.”

Chàng thốt ra những lời nói này như thể chàng muốn chọc giận nàng nhưng trong thâm tâm thật sự chàng muốn nói, “ Em không thích gia đình anh. Tại sao anh không muốn đưa em tới nhà để ăn cơm tối với cha mẹ anh? Em sẽ có thái độ khinh khỉnh bởi vì bố mẹ anh không có tính tự phụ, kiêu căng. Ngay khi cha anh nhìn thấy em, ông cụ biết rằng em không muốn gặp ông cụ. Cứ nhìn cách ông cụ bỏ đi là anh biết mà.”

Cha chàng đang trên đường về nhà và chàng biết rằng trong bữa cơm tối nay cả nhà sẽ gặp lại. Mẹ chàng và em gái chàng sẽ nói mau mắn hỏi đủ chuyện nhưng còn cha chàng thì ông cụ sẽ không nói gì với chàng, không nói gì với mọi người. Rồi trong ký ức của chàng sẽ nổi lên hình ảnh của cha chàng với cái nhìn đăm chiêu qua đôi mắt xanh và cả nỗi đau đớn của ông cụ mà chàng biết rất rõ khi ông cụ bỏ đi.

Khi hai người bước qua hiệu sách, Grace ngắm nhìn khuôn mặt sầu thảm của Harcourt và nàng hiểu rằng Harcourt đang giận dữ trong lòng cho nên sự bực tức và nỗi bất bình trong nàng lại dâng lên, nàng nghiêm nghị nói, “Theo em nghĩ anh có quyền bực tức trong một buổi chiều nóng nực như thế này, nhưng còn em, nếu em không thích chỗ này thì em có quyền không thích. Anh cũng muốn đi chỗ khác cơ mà. Có ai thích đứng lì ở đây trong một buổi chiều nóng nực như thế này đâu? Nói cho anh biết, em bắt đầu không ưa những người lố bịch đụng vào người em, tất cả những ai gần em. Như vậy thì có sao không?

“Thì em là kẻ hợm mình.”

“Em mà là kẻ hợm mình à?” nàng tức giận hỏi lại.

“Rõ ràng em là kẻ hợm mình,” chàng nói.

Lúc này hai người đã ra ngòai cửa và sửa soạn bước xuống đường. Trong ánh nắng chan hòa, giữa dòng người đang tản bộ dọc theo con phố, khi hai người sánh bước bên nhau, Harcourt cố tìm cho ra những câu nói để diễn tả hết ý nghĩ thầm kín của mình đối với Grace, “Anh biết rất rõ cảm nghĩ của em đối với những người không thích hợp với lối sống của gia đình em,” chàng nói.

“Anh đúng là kẻ lố bịch,” nàng nói. Lúc này mặt Grace đỏ gay và vì không biết làm cách nào để diễn tả hết cơn giận dữ, cho nên nàng ngửng cao đầu và bước thẳng.

Chưa bao giờ hai người nói với nhau như thế nhưng giờ đây thì cả hai sẵn sàng tấn công để làm tổn thương nhau. Sau một thôi một hồi, nàng bắt đầu tranh luận với Harcourt rồi nàng trấn tĩnh lại, nói, “ Nghe đây John, tôi nghĩ rằng anh không còn muốn đi với tôi nữa. Uống trà với nhau làm gì thêm vô ích. Tôi nghĩ chúng mình chia tay ngay bây giờ tốt hơn.”

“Được lắm,” Harcourt nói. “ Chào em.”

“Chào anh.”

“Chào em.”

Nhưng khi nàng bỏ đi, bước đi khỏang hai bước thì Harcourt run sợ, vội vã nắm chặt lấy tay nàng, năn nỉ, “Đừng bỏ đi Grace à.”

Tất cả nỗi bực dọc và căm tức giờ đây biến mất trong chàng và chỉ còn lại một niềm khát khao và xao xuyến qua giọng nói, ”Xin Grace tha thứ cho anh. Anh không có quyền nói với em như thế. Không hiểu tại sao anh lại thô lỗ như vậy hoặc có cái gì đây. Anh lố bịch thật. Anh lố bịch quá em à. Xin em tha thứ cho anh. Đừng bỏ anh.”

Harcourt chưa bao giờ nói ấp úng như thế và nói bằng cả khối chân tình cho nên Grace bắt đầu xúc động. Trong khi lắng nghe chàng nói và hiểu được tấm lòng thương mến của chàng, do sự xung đột lúc vừa rồi, dường như họ xích lại gần nhau hơn lúc nào hết và Grace bắt đầu cảm thấy e thẹn. “Em không hiểu tại sao như vậy anh ạ. Em nghĩ cả hai chúng ta đều bực bội trong mình. Có lẽ tại thời tiết nóng quá,“ nàng nói. “Nhưng em không giận anh đâu.”

Harcourt đau khổ gật đầu. Chàng nồng nàn nói cho Grace biết là chắc chắn cha chàng sẽ quý mến nàng, nhưng chưa bao giờ trong đời chàng cảm thấy đau khổ như thế. Chàng nắm chặt lấy tay Grace như muốn ghì chặt lấy cái gì thân thương nhất trong đời như sợ nó có thể vuột khỏi tầm tay… và trong đầu chàng lại hiện lên và còn tiếp tục hiện lên hình ảnh cha chàng đã lặng lẽ bỏ đi và ông cụ không quay đầu trở lại./.

Cước chú: Quý vị, quý bạn có thể vào Google rồi đánh máy The Snob Morley Callaghan để đọc nguyên tác bằng tiếng Anh.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.