Hôm nay,  

Thanksgiving (Lễ Tạ Ơn)

20/11/201200:00:00(Xem: 8978)
Vào khoảng thế kỷ 17, một tộc người Anh, bị Hoàng đế nước Anh, bắt họ phải cải đạo để theo tôn giáo của nhà vua. Họ không đồng ý, nên bị bắt giam. Sau khi giam một thời gian, nhà vua hỏi lần nữa, họ vẫn cương quyết không cải đạo. Nhà vua bảo: “Nếu họ không cải đạo, thì phải rời khỏi nước Anh”.

Có 35 người theo đạo Tin Lành đã bị vua đuổi ra khỏi xứ. Họ hợp thành nhóm hành hương (Pilgrim), rồi rời Anh quốc đến Leyden, Hòa Lan, tìm được tàu để vượt Đại Tây dương, đi tìm vùng đất hứa. Ngày 16-9-1620, tàu Mayflower khởi hành có trọng tải khoảng 180 tấn, chiều dài 28m, rộng 8m, sâu 3,5 đến 4m. Tàu có hai buồm vuông trên cột buồm và cột chính. Tàu Mayflower gồm có 102 người Anh di cư, trong đó có 31 trẻ em, do thuyền trưởng Christopher Jones (1570-1622) cùng với thủy thủ đoàn khoảng 25-30 người.

Cuộc hành trình lênh đênh trên biển 65 ngày đêm, vượt qua 2750 hải lý (1 hải lý=1km852), tàu Mayflower bị gió bão rất gian nan. Một hành khách và một thủy thủ bị chết vì bệnh, bà Elizabeth Hopkins sinh con trai đặt tên là Oceanus. Họ muốn đến Jamestown, Virgina, nhưng tàu Mayflower bị bão dạt lên phía Bắc và đến Cape Cod Bay ngày 21-11-1620, đây là bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts).

Ngày 15-12-1620, tàu Mayflower di chuyển đến Plymouth Rock. Thời gian 6 tháng ở nơi đây, suốt mùa đông người di dân vẫn ở trên tàu Mayflower, vì bị thiếu thốn đủ thứ và thời tiết khắc nghiệt, đã gây tử vong khoảng một nửa số người trong số 102 người hành hương, còn sống chỉ có 53 người. Trước hoàn cảnh nguy khốn, thì họ may mắn được thổ dân da Đỏ (Native Indians) nơi đây, đã cho họ bí rợ, thịt gà, giúp cho họ sống. Đến mùa xuân, họ tự xây dựng những lều trại. Thổ dân da Đỏ chỉ họ cách trồng trọt ngô khoai và săn bắt cá, chim. Mùa gặt năm 1621, di dân gặt hái được nông phẩm dồi dào. “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, William Bradford cùng di dân đã tổ chức lễ Thanksgiving đầu tiên vào tháng 11 năm 1621. Họ mời 91 người thổ dân da đỏ, đã giúp họ trong những ngày đầu khó khăn trên đất Mỹ được sống còn. Từ đó trở đi Thanksgiving thành một tập quán của Hoa Kỳ. Thanksgiving mang ý nghĩa đặc biệt là một truyền thống từ những nhà lập quốc cho đến các người định cư lập nghiệp trên đất nước này.


Đến thời Tổng thống Washington George (1732-1799) đã chọn ngày 26-11-1789, cử hành lễ Thanksgiving cho toàn quốc, nhưng các tiểu bang thường chọn ngày lễ Thanksgiving riêng cho tiểu bang mình. Một trong những người có công trong việc thúc đẩy thành hình ngày lễ Thanksgiving là bà Sarah Josepha Hale; vào năm 1837, bà Sarah là chủ bút báo phụ nữ nổi tiếng “Godeys Ladys Book”. Bà đã viết nhiều lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc hội và những người có thế lực lúc bấy giờ, vận động ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865) chọn ngày thứ Năm cuối cùng của tháng 11, là ngày lễ Thanksgiving cho toàn quốc Hoa Kỳ và giữ cho đến ngày nay.

Bữa tiệc ngày Thanksgiving, thường có gà Tây quay vàng, bí rợ (thức ăn chính mà người da Đỏ đã mang tới cho di dân), các thứ rau như đậu que, khoai lang, bắp... Thường được nấu nướng theo lối cổ truyền, rau xà lách và bánh nhân bí ngô và mứt dâu tây (crawberry). Bánh nhân bí đỏ và bánh nhân hạt pecan, là loại bánh cổ truyền đặc thù của người Mỹ.

Năm 1630, có thêm 17 tàu chở người di dân đến đất mới trù phú này. Đến 250 năm sau, các thuyền buồm tiếp tục vượt Đại Tây dương, đó là những cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử thế giới, với khoảng 11.000.000 người đã đến đất Mỹ.

Sau biến cố ngày 30-4-1975, ở Việt Nam, cả triệu người Việt phải rời quê hương, lúc ấy có khác nào những người di dân (hành hương) đầu tiên đến đất nước Hoa Kỳ.

Ngày nay, có 8 quốc gia trên thế giới đã chính thức tổ chức Thanksgiving: Hoa Kỳ, Canada, Argentina, Brazil, Nhật, Đại Hàn, Liberia và Thụy Sĩ.

Nguyễn Lộc Yên

Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.