Hôm nay,  

Văn Hoá và Thịnh Vượng

25/01/201300:00:00(Xem: 8520)
Di Dân và Đa Văn Hoá là Yếu Tố Thịnh Vượng

Tiếp tục loạt bài về những yếu tố đóng góp cho sự thịnh vượng của một quốc gia, mục Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về vai trò của văn hoá. Xin quý thính giả nghe phần hỏi đáp do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin trân trọng kính chào tái ngộ ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, như đã hẹn, ta sẽ tiếp tục trao đổi về các động lực tạo ra sự giàu nghèo của các nước trong nhiều thời kỳ khác nhau. Câu hỏi đầu tiên xin được nêu ra là một thành ngữ gốc Trung Hoa, "phi thương bất phú"- không có thương nghiệp thì không thể làm giàu.

Chúng ta đều biết câu nói này xuất phát từ nền văn hóa Trung Hoa, như mình có thể thấy qua nguyên văn bằng Hán ngữ. Thế nhưng hình như là trong chuyện này lại có một nghịch lý.

Một đàng là lý luận Khổng Nho có tính chất thống trị trong nền văn hóa và chính trị Trung Quốc cứ đề cao người có học đi làm quan, như ta thấy qua bốn thành phần xã hội là "sĩ, nông, công, thương", tức là thương nhân đứng hạt chót. Đằng kia là chữ "phi thương bất phú" và thành tựu kinh doanh đáng kể của Hoa kiều lưu tán tại các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam. Ông giải thích thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nghịch lý ông vừa nêu lên là một chuyện rất thú vị dù là hơi dài nếu ta muốn đi vào nguyên ủy của vấn đề. Tôi xin được tóm gọn như sau. Thời Chiến Quốc từ thế kỷ thứ năm trước Tây lịch ở bên Tầu đã có một giai đoạn đa nguyên với nhiều tư tưởng phong phú, và trong "bách gia chư tử" của họ đã có một phái là "kế hoạch gia" mà ta hiểu nôm na là kinh tế học và nghệ thuật làm giàu. Nhân vật Đào Chu Công tức là Phạm Lãi của nước Việt là một người nổi tiếng của phái đó. Nhưng qua đời Hán từ năm 200 trước Tây lịch thì người ta xoá bỏ hệ thống tư tưởng đa nguyên, lấy lý luận Khổng Nho là chân lý nhằm bảo vệ quyền lực triều đình với việc đề cao sĩ phu và nông nghiệp mà coi thường thương nghiệp và kỹ thuật. Dù sao, đấy là phần nổi ở trên, chứ quần chúng ở dưới thì vẫn cứ làm ăn buôn bán và khi xiêu dạt qua xứ khác, họ đem theo thói quen rất thực tiễn và cố gắng làm ăn nên mới thành công. Cũng câu hỏi đó mới khiến ta để ý đến văn hoá và vai trò của di dân trong việc tạo ra sự thịnh vượng.

Vũ Hoàng: Ông có thói quen nêu vấn đề rất lạ, và cho rằng văn hóa và di dân có thể tạo ra sự thịnh vượng. Chúng ta sẽ khởi đi từ đó....

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được lấy một định nghĩa thông tục để khỏi dài dòng về phạm trù "văn hóa". Đó là "các yếu tố tinh thần, dù là bất thành văn, vẫn chi phối cách suy nghĩ và hành xử của một tập thể sống chung trên cùng một lãnh thổ". Nghĩa là một cộng đồng dân tộc trên một khu vực địa dư thường có chung một số động thái do cùng chia sẻ một số giá trị tinh thần mà ta gọi là "văn hoá".

- Khi ấy, ta nhớ đến một quy luật có trình bày một kỳ trước, đó là "nói chung, các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất phát từ vùng châu thổ của các con sông lớn và khu vực núi non hiểm trở thì khó phát triển và thường đi sau vùng đồng bằng." Yếu tố quyết định ở đây là sự giao tiếp giữa nhiều thói quen khác biệt mà ta gọi là văn hóa, bên dưới là sự chuyển giao công nghệ.

- Trên vùng núi non hiểm trở người ta chậm phát triển vì khó giao tiếp với bên ngoài và vẫn giữ nét văn hoá riêng mà không đổi mới. Tại vùng đồng bằng, bên các son sông lớn hoặc biển cả, người ta có nhiều cơ hội tiếp cận và trao đổi với bên ngoài nên dễ tìm ra giải pháp mới cho nhiều bài toán cũ. Và như vậy, tính chất đa văn hoá lẫn tinh thần cởi mở để đón nhận di dân có thể là yếu tố đóng góp cho sự thịnh vượng. Ngược lại, nếu cứ tự đóng kín với thế giới bên ngoài thì người ta có thể chết đói trên một kho vàng do tổ tiên để lại vì không biết cách khai thác.

Vũ Hoàng: Trong có vài câu khá cô đọng, ông nói ra những điều khá phức tạp nên xin đề nghị ông trình bày ra một số thí dụ minh diễn có được không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin khởi đi từ Trung Hoa với bóng rợp văn hoá của họ trong cả ngàn năm làm dân ta lụn bại dần mà không biết. Nhiều người Trung Hoa từ thời Chiến Quốc tức là 25 thế kỷ trước, đã mường tượng rằng trái đất hình tròn. Nhưng văn hoá xứ này lại tin rằng thế giới là mặt phẳng, ở giữa có Trung Quốc là trung tâm của thiên hạ và coi dân khác là man rợ. Cũng vậy, xứ này đã phát minh ra thuốc súng, nhưng văn hoá của họ lấy phát minh này làm pháo bông cho đến khi bị pháo hạm và đại bác Tây phương khuất phục và nay mới bắt đầu Tây phương hóa.

- Một thí dụ khác gần gũi hơn với chúng ta là sau năm 1558, khi một đại quan của triều Lê là Nguyễn Hoàng từ Thăng Long vào Thuận Hóa lánh nạn, ông khai sáng ra chín đời Chúa Nguyễn và mở mang lãnh thổ trên một vùng đất mới, có tài nguyên và điều kiện sinh hoạt mới. Vì nội chiến Trịnh-Nguyễn, các Chúa Nguyễn thoát khỏi nếp văn hoá bị Hán hóa ở Đàng Ngoài mà phát triển Đàng Trong theo lối thực tiễn cởi mở hơn, và nhờ đó phát huy tinh thần "bốn bể một nhà" của dân lưu tán. Khi đó, Đàng Trong giao thiệp và buôn bán bình đẳng với mọi sắc dân Âu-Á để trở thành cường quốc kinh tế của cả Đông Nam Á. Khi Gia Long thống nhất đất nước thì lại xây dựng chế độ trên cơ sở Trung Hoa lạc hậu đời Thanh nên chỉ 70 năm sau Chiến thắng Đống Đa năm 1789, nước Nam đã bị Âu Châu khuất phục khi Pháp bắn vào Đà Nẵng năm 1859. Từ mấy thí dụ gần đó, ta có thể suy ra những trường hợp hiện đại và thời sự hơn về kinh tế.


Vũ Hoàng: Bước sang chuyện hiện đại thì ông thấy những thí dụ nào là có vẻ tiêu biểu nhất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong một kỳ trước, chúng ta có nói đến xứ Argentina, vào đầu thế kỷ 20 đã là một trong 10 quốc gia giàu mạnh của thế giới. Mình có thể hỏi là ở đâu ra sự giàu mạnh đó tại Nam Mỹ? Thí dụ đầu tiên là di dân gốc Đức đã đem theo kiến thức về canh tác lúa mì khiến xứ này đang từ tình trạng nhập khẩu bột mì trở thành một trong mấy nước xuất khẩu lớn nhất thế giới trên một lãnh thổ đã có sẵn điều kiện thuận lợi cho canh tác. Di dân gốc Anh thì đem theo kỹ thuật và công nghệ hỏa xa qua Ấn, qua Phi và giúp Argentina phát triển hạ tầng vận chuyển và tạo ra sự trù phú. Nhưng rồi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và ách độc tài của chế độ Juan Peron đã khiến đầu tư và di dân quốc tế tháo chạy khiến xứ này mới nghèo dần và lụn bại.

- Suy ngẫm ngược lại thì di dân gốc Âu Châu đã đem theo văn hoá và kiến thức của họ phát triển các vùng đất mới tại Hoa Kỳ, Canada hay Úc Châu nên không mất trăm năm để học lại từ đầu. Và trên vùng đất mới có nhiều tài nguyên mà thổ dân bản địa không biết khai thác, di dân đã mở ra nhiều cơ hội và xây dựng nên những nét văn hóa khác biệt với Âu Châu. Một thí dụ gần gũi khác là tại vùng Thung lũng Điện tử ở miền Bắc California, rất nhiều doanh nghiệp loại nhỏ là do di dân lập ra và thành công mỹ mãn để trở thành những tập đoàn lớn.

Vũ Hoàng: Từ những thí dụ ấy mình có thể rút tỉa được nhiều bài học hữu ích. Theo ông thì những bài học nào là đáng nhớ nhất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thí dụ về Argentina cũng áp dụng cho nhiều xứ khác tại Trung Nam Mỹ. Điều kiện địa dư, hình thể và khí hậu thì vẫn có sẵn, nhưng các định chế và tổ chức, nghĩa là nếp văn hoá và nền tảng pháp lý lại không khai thác điều kiện tự nhiên này cho đến khi di dân xứ khác tới nơi đã tạo hoàn cảnh cho thịnh vượng.

- Từ vài thế kỷ gần đây, hiện tượng di dân mở rộng trên địa cầu cho phép nhiều sắc dân và nếp văn hoá giao tiếp với nhau và tìm ra các giải pháp mới mà quê hương cũ hay xã hội tiếp cư mới lại không có trước đó. Chúng ta đều hiểu đa số di dân là người nghèo, thực chất là tha phương cầu thực để kiếm sống, với một bản năng sinh tồn và sức chịu đựng rất cao. Khi được tự do làm ăn, các đức tính ấy đã giúp họ làm giàu và tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội tiếp cư. Nếu xã hội tiếp cư lại kỳ thị hoặc ruồng bỏ di dân từ cõi lạ thì xã hội đó để mất thời cơ và khó phát triển.

- Bài học ở đây chính là cách mở mang tầm nhìn và có tinh thần hợp tác không kỳ thị, đấy là các yếu tố góp phần cho thịnh vượng. Nhưng sự khai phá trong tầm nhìn và tinh thần hợp tác phải dẫn đến một luật chơi chung, là cơ sở pháp lý cần thiết để có được sự tin cậy trong kinh doanh.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi tới phần cuối là bài học cho Việt Nam. Khi nói đến quy luật của giàu nghèo cùng yếu tố di dân và đa văn hóa, người Việt ta có thể học được gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Nếu nhớ đến địa dư hình thể và nếp văn hóa bị Hán hóa tại miền Bắc được coi là "ngàn năm văn vật", ta có thể nhìn ra một hiện tượng. Đó là những người thông minh, biến báo hoặc liều lĩnh nhất của miền Bắc đã phát triển và trở thành dân miền Trung rồi người Nam. Trên vùng đất mới, họ thoát khỏi nếp văn hoa sơ cứng của miền Bắc mà giao tiếp và sinh hoạt trong tinh thần tự do và cởi mở hơn để tạo ra sức mạnh kinh tế khá đặc biệt của miền Nam, không phải là sau năm 54 hay 75 của thế kỷ 20 mà ngay từ thời còn là Đàng Trong.

- Đàng Trong ngày xưa và miền Nam ngày nay đã đi trước không chỉ nhờ địa dư trù phú hơn mà là nhờ cái đầu thông thoáng hơn và nhất là nhờ không có tinh thần kỳ thị, sợ sệt hoặc mặc cảm. Người dân nơi đây làm ăn và giao tiếp với thế giới một cách dung dị và bình đẳng nên tìm ra các giải pháp mới mà miền Bắc khó thể có. Khi lãnh đạo ngày nay lại áp đặt khuôn khổ văn hoá chính trị độc tôn, về bản chất vẫn là tự Hán hóa theo màu sắc Trung Quốc cộng sản, thì chế độ làm xứ sở nghèo đi, nghĩa là lại kéo đất nước về tình trạng lạc hậu cũ.

- Một thí dụ hiện đại và thời sự không kém là cách giao tiếp với người Việt tại hải ngoại, là thành phần bắt buộc phải học hỏi cái mới của thiên hạ để tồn tại và thành công trong xã hội tiếp cư. Cộng đồng người Việt này không chỉ đem tiền về mà còn mang theo kiến thức và cách suy nghĩ của thế giới khác để có thể đóng góp cho sự thịnh vượng của quê hương cũ. Chế độ sẵn sàng nhận tiền, thậm chí còn làm tiền họ, nhưng nghi kỵ những tư tưởng mới mà họ gọi là phản động hay "có âm mưu lật đổ". Đâm ra di dân Việt Nam có thể làm giàu cho xứ khác mà không làm giàu cho nước mình nếu không chui qua hai chân của lãnh đạo và nộp tiền cho kẻ cầm quyền.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi lý thú này.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.