Hôm nay,  

Về Bến

12/03/201300:00:00(Xem: 20161)
Hôm nay Thứ năm 7-3-2013.Tại nhà hàng Paracel ở Nam California, có một cuộc gặp mặt thân mật giữa các cựu Hải Quân VNCH nhân cựu Tư Lệnh Hạm Đội, Hải Quân VNCH là HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn(1973-1975)từ Florida qua Nam California. Dự buổi gặp mặt ngày hôm nay có sự tham dự của cựu Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào và cựu HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê cùng các cựu Hải Quân từng quen biết và làm việc với NT Sơn.

Đầu tiên chiến hữu Lưu Thanh Vương đến tặng NT Đào, NT Sơn, NT Khuê mỗi người một cuốn ambum ảnh nghệ thuật “My Homelands” do anh thực hiện với nhiều hình ảnh quê hương Việt Nam và quê hương thứ hai Hoa Kỳ.

Xin nhắc lại,Hạm Đội HQ/VNCH gồm 3 Hải Đội. Hải Đội1 Tuần duyên (gồm các loại chiến hạm PGM, LSIL, LSSL), Hải Đội 2 Chuyến vận(gồm các loại chiến hạm LST,LSM LCU, YOG), Hải Đội 3 Tuần dương (gồm các loại chiến hạm PCE, WHEC, DER).Các chiến hạm Hạm Đội được biệt phái hoạt động khắp bốn vùng chiến thuật từ Vĩ tuyến 17 đến Phú Quốc,bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước NT Sơn làm Tư Lệnh Hạm Đội là Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu. Những ngày cuối cùng cuộc chiến HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê được bổ nhiệm thay thế NT Sơn.Trong cuộc họp mặt nầy có khoảng 40 cựu chiến hữu Hải Quân tham dự trong đó có nhiều cựu Hạm Trưởng của các chiến hạm LSM, LST, PCE, WHEC…

Trước khi dùng cơm trưa, tất cả ra trước nhà hàng Paracel mà nay gọi là nhà hàng Hoàng Sa để chụp một tấm hình lưu niệm.Chụp hình xong vào bàn ăn, NT Tôn Thât Đôn trưởng ban tổ chức cho biết đây là buổi gặp mặt thân mật, tình chiến hữu nay thành tình bạn già cho nên ai muốn hỏi gì NT Sơn cứ hỏi. NT Sơn vui nhộn như ngày nào, ông nhìn quanh mình với bao khuôn mặt quen thân,những cái ôm, những cái bắt tay với bao tiếng cười, nói rộn rã.Trước hết NT Sơn vui cười phát biểu: “Hôm nay tôi vô cùng vui sướng gặp lại các bạn ở đây.Trong thời gian làm việc với tôi, nếu tôi có điều gì làm các bạn không bằng lòng thi đây là dịp cho tôi được xin được nói lời giải thích.”.
ve_ben_hai_quan_hoi_ngo
Hình của nhiếp ảnh gia Lưu Thanh Vương.
Người đầu tiên hỏi NT Sơn là chiến hữu Trương Văn Song, Hội Trưởng Hội Hải Quân Cửu Long hỏi lý do NT Sơn bị cách chức Tư Lệnh Hạm Đội vào những ngày cuối tháng tư năm 1975. Theo lời của NT Sơn thì: “Vào tháng 3 năm 1975, tình hình chiến sự tại Quân khu I rất sôi động. HQVN có rất nhiều chiến hạm hoạt dộng tăng phái cho BTL/HQ V I ZH. NT Sơn thân hành di chuyển ra Đà Nẵng để trực tiếp yểm trợ cho Đô Đốc Thoại, TL/HQVIZH. Trong dịp nầy có một giai thoại đáng ghi nhớ là NT Sơn có đi trực thăng cùng với Thiếu tướng Nguyễn Văn Điềm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ra vùng biển Thuận An để điều hành cuộc triệt thối của Sư Đoàn I/BB bằng đường biển. Trong lúc bay trong khu vực cửa Thuận, trực thăng bị địch bắn trúng thùng xăng. Xăng chảy ra rất nhiều. Trực thăng buộc phải đáp khẩn cấp xuống bải cát ngoài xa. Cơ may nhờ có một trực thăng khác bay qua tiếp cứu NT Sơn và Thiếu Tướng Điềm cùng phi hành đoàn đưa về Đà Nẵng. NT Sơn nói tiếp:”Trong suốt thời gian yểm trợ triệt thối hai Quân Đoàn I và Quân Đoàn I I vào trong Nam, tôi đã chứng kiến nhửng cảnh hổn độn của các đơn vị bạn trên đường triệt thối mà nhiều tác giả đã mô tả đầy đủ. Cuối tháng 3, 1975 khi về Bộ Tư Lệnh Hạm Đôi, tôi hội họp với các vị Chỉ Huy Trưởng các Hải Đội và các vị Hạm trưởng hiện diện tại Saigon để bàn thảo về việc nâng cao tình trạng sẵn sàng của các chiến hạm Hạm Đội phòng những chuyện bất trắc của thời cuộc và phòng những tai biến tương tợ như những gì mà các đơn vị bạn đã trải qua trên đường triệt thối. Đặc biệt các quý vị làm việc với tôi rất chú trọng đến vấn đề gìn giữ tinh thần của các cấp điều hành chiến hạm. Vì sự chú trọng đặc biệt đó nên tôi có quyết định cho phép gia đình nhân viên chiến hạm được theo chiến hạm công tác. Trong lúc đôn đốc để nâng mức sẵn sàng của các chiến hạm được đến điểm cao nhất vào những ngày cuối tháng 4, 1975 thì bất ngờ tôi nhận được lệnh bàn giao chức vụ Tư Lệnh Hạm Đội cho HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê. Lúc bấy giờ, tôi không biết rõ lý do thuyên chuyển vì tôi không được TL/HQ nói với tôi lời nào. Chỉ có một công điện thượng khẩn với một chỉ thị độc nhất là bàn giao cấp tốc. Có nhiều dư luận bàn ra tán vào. Sau nầy, vài năm sau khi đã di tản, tôi mới biết lý do thuyên chuyển là sự xung khắc giữa ý định của tôi muốn đem Hạm Đội ra biển và ý định của TL/HQ muốn đem chiến hạm về miền Tây. Việc tôi cho phép nhân viên chiến hạm được đem theo gia đình trên chiến hạm chỉ là “giọt nước làm tràn ly nước”. Phải nói là tôi rất hài lòng về cuộc hành trình cuối cùng của Hạm Đội HQVN.”


Các thủy thủ già có mặt hôm nay như những cánh chim hải âu bay lượn khắp bốn phương trời nay mỏi cánh tụ họp về đây để nghe lại tiếng hót của những con chim già đầu đàn, kể cho nhau nghe những hình ảnh xa xưa của một thời sông biển.Có chiến hữu ở xa như Đào Trung Phú ở San Diego, NT Huỳnh Duy Thiệp ở Riveside cũng lên gặp NT Sơn. NT Lê Tấn Đạt (sĩ quan cơ khí) và chiến hữu Lý Văn Hải (vận chuyển) kể lại những kỷ niệm với NT Sơn khi lảnh Hộ Tống Hạm Kỳ Hòa (HQ 09) ở Hoa Kỳ năm 1961.Lính biển thì có nhiều chuyện tiếu lâm lắm!

Buổi găp mặt không có MC,không có micro nhưng đầy tiếng cười.Mọi người nhiệt tình đến với NT Sơn như để xã hết nổi lòng sau bao năm tháng chưa được hàn huyên,chưa được chia xẻ những vui buồn trong cuộc sống. Vì ai cũng ý thức rằng nay mai cũng phải vĩnh viễn về bến nghỉ dù dưới lòng đất, trên không hay biến cả.

Những thủy thủ già từng ngang dọc đó đây nay tìm kiếm nhau để nói chuyện và chụp hình trong lúc các bà đi theo ngồi im lặng để lắng nghe môt thời vàng son của chồng mình.Những lần gặp nhau đều là những lần diễm phúc cho mỗi người.Trừ những chiến hữu dưới 70 tuổi, chắc sẽ còn nhiều lần gặp nhau, nhiều lần vui nữa.Nhưng các chiến hữu trên 70 hay 80 tuối thì lần gặp mặt nào cũng là lần gặp mặt cuối.Và mỗi người lại chuẩn bị cho mình ngày về bến dù ngày đó không ai biết trước lúc nào.

Cuộc gặp mặt kéo dài gần 3 giờ và chia tay trong tình lưu luyến.Từ ngày xa quê hương cho đến nay đã gần 40 năm, nhưng trí nhớ của những thủy thủ già Việt Nam vẫn chưa phai mờ. Lòng ước mơ một quê hương Việt Nam thanh bình, dân chủ và tự do vẫn bùng cháy hơn bao giờ hết.Với niềm cảm xúc đó,tôi đã làm bài thơ “Về Bến”:

Con tầu rời khỏi bến
Ngẩn ngơ một dòng sông
Sài Gòn bao nghiệt ngã
Ngàn cây cùng muốn khóc
Đoàn tàu đi trong tối
Nhẹ lướt qua Nhà Bè
Gầm gừ trong Rừng Sát
Gối sóng ra Cần Giờ
Ngọn Hải Đăng chờ đón
Đàn hải âu lượn quanh
Bờ cát dài thổn thức
Quê hương gọn vòng tay
Bao năm cùng biển cả
Chưa hết mộng hải hồ
Bân khuâng tình dâu bể
Mòn mỏi bước tha phương
Quê hương cuồn cuộn sóng
Người thủy thủ già còn đây
Bao bóng hình nơi ấy
Khúc tình ca vươn đầy
Gào lên thành bão táp
Cho Việt Nam bừng sáng ngày mai
Để đoàn tàu về bến
Như một dòng sông
Tìm về với biển
Tam Giang Hoàng Đình Bảu

Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.