Hôm nay,  

Giấc Mộng Obamacare

23/04/201300:00:00(Xem: 22502)
...Obamacare đến nay đã đẻ ra 19.842 điều lệ, tổng cộng dầy hơn 20.000 trang...

Obamacare sẽ là một vấn đề thời sự quan trọng từ giờ cho đến năm tới. Năm 2014 là năm Obamacare sẽ có hiệu lực trọn vẹn tuy những hệ quả lâu dài vẫn còn mù mờ. Đến tháng Mười năm nay, tất cả 50 tiểu bang đều phải thiết lập xong các trung tâm phối hợp (exchanges) để thiên hạ có thể tìm mua bảo hiểm y tế thích hợp nhất. Năm tới cũng là năm có bầu cử giữa mùa, bầu lại Hạ Viện, một phần ba Thượng Viện và hàng loạt thống đốc, dân biểu và nghị sĩ tiểu bang. Phản ứng của dân Mỹ đối với Obamacare sẽ được thể hiện qua lá phiếu.

Chính quyền Obama ý thức được từ đầu sự thiếu hậu thuẫn của Obamacare nên đã cố tình kéo dài thời gian hiệu lực trọn vẹn qua khỏi cuộc bầu cử tổng thống năm 2012.

Cuộc bầu tổng thống có ảnh hưởng quyết định trong một vài điều luật. Chẳng hạn như điều cho phép các con được bảo hiểm cùng với cha mẹ cho đến 26 tuổi, là một trong những điều luật được ủng hộ mạnh, thì có hiệu quả ngay lập tức, từ năm 2009, trước hai cuộc bầu năm 2010 và 2012. Ngoài ra, chính quyền Obama cũng đặc miễn cho gần 1.500 công ty, phần lớn có nghiệp đoàn, được miễn áp dụng Obamacare cho đến năm 2014 để tránh phải sa thải hàng loạt nhân viên trước cuộc bầu tổng thống 2012. Nói cách khác, TT Obama ý thức rất rõ một số điều luật trong Obamacare sẽ bị mất lòng dân rất nhiều, nên thu xếp ngày hiệu lực lòng vòng quanh cuộc bầu cử tổng thống năm 2012, có lợi thì có hiệu lực sớm, có hại thì có hiệu lực sau, để bảo đảm ông được tái đắc cử.

Cung cấp bảo hiểm cho toàn dân là điều ông mong muốn càng sớm càng tốt, nhưng tái đắc cử vẫn là chuyện quan trọng hơn.

Bây giờ Obamacare tới đâu rồi?

Thượng nghị sĩ Dân Chủ Max Baucus nhận định Obamacare như xe lửa đang lao khỏi đường rầy (train wreck) vì hơn một nửa các tiểu bang từ chối không thiết lập các trung tâm phối hợp này. Đại đa số dân chúng sẽ không biết phải làm gì, mua bảo hiểm ở đâu, làm sao tránh bị phạt. Sẽ là tình trạng rối loạn hơn tơ vò.

Báo phe ta New York Times nhận định vấn đề lớn nhất của Obamacare sẽ là thiếu bác sĩ. Phần lớn số 30 triệu người được Obamacare cho gia nhập thị trường y tế sẽ cần bác sĩ tổng quát. Hiện nay, ở Mỹ, cứ 10 bác sĩ thì chỉ có 3 người là bác sĩ tổng quát, còn 7 người là bác sĩ chuyên môn, vì bác sĩ chuyên môn có lợi tức gấp ba lần bác sĩ tổng quát, ít người muốn làm bác sĩ tổng quát. Hiện nay, Mỹ đang thiếu bác sĩ tổng quát trầm trọng, nhất là tại các vùng nông thôn hay tỉnh nhỏ. Bây giờ thêm 30 triệu người nữa thì chắc chắn bệnh nhân sẽ phải lấy hẹn cả tuần nếu không phải cả tháng trước, và đến phòng mạch thì sẽ chờ mỏi cổ.

Chuyện thiếu bác sĩ, thiên hạ đã biết từ bốn năm trước rồi. Bây giờ báo phe ta New York Times mới chịu nhìn nhận, sau khi gạo đã thổi thành cơm từ ba năm nay rồi.

Một nhà báo phe ta khác, Joe Klein trên báo Time, đã phải than phiền về “Obamacare Incompetence”, chỉ trích chính quyền Obama đã bò chậm hơn rùa vì quá nặng nề, không thể nào toàn bộ luật có thể có hiệu lực đầy đủ đúng hạn kỳ được. Luật Obamacare cho đến nay đã đẻ ra 19.842 điều lệ, tổng cộng dầy hơn 20.000 trang giấy lớn, chồng thành tập cao hơn hai thước.

Nhưng đây không phải là những vấn đề lớn nhất của Obamacare.

Trên căn bản Obamacare ra đời với hai mục đích chính: 1) cung cấp bảo hiểm và dịch vụ y tế cho toàn dân, bao gồm những người đã có bịnh mà bị các hãng bảo hiểm từ chối bảo hiểm, và những người vì nhiều lý do không có bảo hiểm y tế; và 2) cắt giảm chi phí bảo hiểm và dịch vụ y tế quá cao hiện nay của Mỹ, giúp làm nhẹ bớt gánh nặng quá lớn cho các gia đình nghèo. Tên gọi chính thức của Obamacare là “Affordable Care Act”, đại khái dịch là “Luật Về Chăm Sóc Y Tế Có Thể Gánh Chịu Được”.

Đối với mục đích đầu, nhiều người đã làm tính và thấy không mua bảo hiểm và đóng phạt rẻ và có lợi hơn mua bảo hiểm. Đây là suy tính điển hình của giới trẻ là giới phải đóng tiền bảo hiểm cao trong khi họ thấy không cần bảo hiểm vì họ còn rất khỏe mạnh, để tài trợ cho việc bảo hiểm những người lớn tuổi, dễ bị bịnh hơn.

Đối với mục đích thứ hai, thì mới đây, một tổ chức nghiên cứu (Society of Actuaries, là ngành chuyên tính về xác xuất bảo hiểm) đã cho biết chi phí y tế sau khi Obamacare có hiệu lực, sẽ tăng trung bình một phần ba (32%) chứ không thể suy giảm như TT Obama hứa hẹn. Một vài tiểu bang sẽ thấy chi phí y tế giảm nhẹ, nhưng hầu hết các tiểu bang khác đều sẽ thấy chi phí tăng vọt, nhiều ít tùy tiểu bang:

Giảm chi phí: các tiểu bang giàu vùng đông bắc như Nữu Ước, Massachusetts, New Jersey, Rhode Island, Vermont. Giảm trung bình trên dưới 10%.

Tăng chi phí: các tiểu bang kỹ nghệ với nhiều dân lao động vùng đại hồ như Ohio (+80%), Wisconsin (+80%), Indiana (+68%), các tiểu bang nghèo với nhiều dân da màu như Maryland (+67%), Alabama, Mississippi, và tiểu bang nhiều di dân gốc Nam Mỹ, Cali (+62%).

Nhìn vào những con số trên, ta thấy cái mâu thuẫn lớn của Obamacare: với mục đích giảm chi phí bảo hiểm và dịch vụ y tế cho dân nghèo, rốt cuộc, Obamacare sẽ cắt giảm chi phí tại những tiểu bang giàu sụ nhất, trong khi lại tăng mạnh tại các tiểu bang nhiều dân lao động, dân da đen và dân gốc Nam Mỹ nhất. Dân tỵ nạn ta phần lớn sống tại Cali và Maryland, là hai tiểu bang nằm trong danh sách chi phí tăng mạnh nhất, hơn 60%. Đại khái nếu tổng cộng chi phi y tế trước đây là 1.000 đô một tháng, thì trong tương lai gần, bà con ta sẽ phải trả hơn 1.600 đô. Nhờ Obamacare.

Cái lý do đơn giản nhất là những tiểu bang nghèo cũng là những tiểu bang có nhiều người trước đây không có bảo hiểm nhiều nhất. Bây giờ số người tham gia vào thị trường y tế cũng lớn nhất tại những tiểu bang này, và do đó, chi phí cũng tăng mạnh nhất luôn.

Những nghiên cứu loại này thật ra chỉ xác nhận bằng các con số cụ thể những gì mà thiên hạ ai cũng biết hết từ lâu rồi. Những quảng bá của TT Obama, là Obamacare sẽ cắt giảm chi phí y tế đi ngược lại mọi lý luận toán học hay kinh tế sơ cấp. Khi các công ty bảo hiểm, nhà thương, bác sĩ bị bắt phải nhận những người bị bệnh nặng từ trước thì không có cách nào chi phí y tế có thể giảm được. Chỉ có các chính trị gia và những người nhắm mắt tin họ mới có thể chấp nhận cái lý luận ngược đời như vậy. Ở đây, phải nhìn nhận trên phương diện nhân đạo, Obamacare mở cửa cho những người bị bệnh nặng được bảo hiểm và chữa trị đầy đủ, là một tiến bộ cho dân Mỹ, không ai có thể chối cãi được. Nhưng TT Obama đáng lẽ ra nên chân thật với dân hơn, và nhìn nhận là cái giá phải trả sẽ không nhỏ, chứ không nên lập lờ khẳng định Obamacare sẽ cắt giảm chi phí y tế. Vấn đề là nếu nói thật ra từ đầu thì Obamacare đã chết trong trứng nước.

Chẳng những TT Obama đã không nói sự thật về việc chi phí y tế sẽ tăng, mà ông cũng không dám nói gia tăng sẽ mạnh nhất trong những tiểu bang nhiều người nghèo nhất. Đây chính là khối cử tri mê Obamacare nhất, chỉ vì thiếu hiểu biết nhất. Họ hoan hô Obamacare vì khiá cạnh nhân đạo, mà không nhìn vào khiá cạnh kinh tế. Hay có nhìn vào khiá cạnh kinh tế, thì cũng vẫn hoan hô vì tin vào lập luận mỵ dân của TT Obama: nhà giàu sẽ bị đánh thuế nặng hơn để chi trả cho bội phí này.


Điều mà nhiều người nghèo không thể hay không chịu nhìn thấy, là thực tế không dễ gì đánh thuế nhà giàu. Họ sẽ có đủ trăm phương ngàn kế để trốn thuế. Nếu không trốn thuế được thì họ sẽ tìm cách chuyền thuế của họ lên đầu người khác, như tăng giá hàng và dịch vụ của họ, và người tiêu thụ, giàu cũng như nghèo, sẽ là những nạn nhân cuối cùng. Một cách giản dị và cụ thể, ông chủ đại siêu thị có bị đóng thuế cao hơn, sẽ tăng giá hàng, người mua hàng sẽ trả giá cao hơn, tức là gánh cái thuế dùm cho ông đại gia.

Phản ứng đầu tiên của chính quyền Obama là chẻ sợi tóc làm ba, chỉ trích nghiên cứu trên sơ hở nhiều điểm kỹ thuật, do đó, không chính xác. Nhưng cuối cùng thì bà Bộ Trưởng Y Tế Kathleen Sebelius đành phải nhìn nhận chi phí y tế sau Obamacare sẽ gia tăng chứ không giảm.

Bà Sebelius nhìn nhận chi phí bảo hiểm sẽ tăng, nhưng cố bào chữa bằng cách nhấn mạnh chính quyền Obama sẽ giúp những người nghèo không đủ phương tiện. Câu hỏi đặt ra là như vậy thì những người không phải là nghèo nhất, đại đa số dân gọi là trung lưu thì sao?

Kẻ viết này đã nhiều lần lập luận trên cột báo này, xứ Mỹ gồm có ba thành phần xã hội: dân nghèo nhất thì được Nhà Nước tung tiền ra giúp đỡ đủ cách, dân giàu nhất thì dư dả lo cho mình, chỉ có khối dân nửa nạc nửa mỡ, gọi là trung lưu, là khối dân kẹt cứng ở giữa. Đóng thuế tối đa mà không có cách trốn thuế, và không đủ nghèo để được Nhà Nước giúp. Dưới chính quyền Obama, khối này sẽ phải đóng bảo phí cao hơn, trong khi việc làm thì phiêu lưu hơn, mất job như chơi, đồng thời sẽ phải đóng thuế cao hơn để Nhà Nước có tiền tài trợ bảo phí cho khối dân nghèo.

Trên nguyên tắc, Obamacare sẽ bành trướng chương trình Medicaid cho người nghèo rất nhiều. Đây là một chương trình được tài trợ bởi các tiểu bang, với sự trợ giúp của liên bang.

Trong tình trạng kinh tế khó khăn hiện nay, hầu hết các tiểu bang chẳng những khó mở rộng Medicaid vì thiếu tiền, mà còn sẽ phải cắt bớt Medicaid. Nhà Nước Obama đã hứa hẹn chính quyền liên bang sẽ gánh 100% phần gia tăng chi phí đó trong ba năm đầu kể từ ngày tiểu bang mở rộng Medicaid, rồi những năm sau đó sẽ trợ giúp 90%. Nghe thì rất phấn khởi. Vấn đề là các thống đốc tiểu bang nhìn vào tình trạng tài chánh liên bang, và không dễ tin lời hứa hẹn của TT Obama như đám dân thường. Họ cho rằng liên bang sẽ không có đủ tiền để gánh cái phụ phí này, và cuối cùng thì các tiểu bang sẽ là nạn nhân thực sự vì phải gánh chịu bội phí một mình. Phần lớn đây là những tiểu bang nghèo miền nam, đang gặp khó khăn ngân sách nặng.

Một nửa số tiểu bang do đó đã từ chối không nới rộng chương trình Medicaid này. Và Tối Cao Pháp Viện đã nhìn nhận quyền từ chối này của các tiểu bang. Kết quả là những thành phần trung lưu thấp, sẽ bị kẹt trong cuộc tranh chấp giữa tiểu bang và liên bang. Chưa đủ tuổi để vào chương trình Medicare cho người già, không đủ nghèo để vào chương trình Medicaid cho người nghèo, chưa đủ giàu để có thể bỏ tiền túi mua bảo hiểm thường, và sẽ bị phạt nặng nếu không mua bảo hiểm y tế. Trên đe dưới búa.

TT Obama khi tranh cử lần đầu năm 2008, đã trực diện ba vấn đề lớn của Nước Mỹ: 1) khủng hoảng gia cư đưa đến khủng hoảng tài chánh rồi khủng hoảng kinh tế, và thất nghiệp lan tràn, 2) cuộc chiến dai dẳng chống khủng bố cùng với hai cuộc chiến liên hệ tại Afghanistan và Iraq, và 3) khủng hoảng chính trị thể hiện bởi phân hoá trầm trọng giữa hai chính đảng, từ thời TT Clinton qua đến thời TT Bush.

TT Obama hứa hẹn giải quyết cả ba vấn nạn lớn và được đa số dân Mỹ tín nhiệm.

Kết quả, sau một nhiệm kỳ, ta thấy kinh tế vẫn èo uột, chiến tranh tại Trung Đông chấm dứt tuy chiến tranh chống khủng bố vẫn là câu hỏi lớn, nhất là sau vụ bom nổ tại Boston mới đây, và nước Mỹ phân hóa hơn bao giờ hết.

Nhiều người đã đặt vấn đề khả năng của TT Obama, một người với một quá trình mỏng hơn trang giấy trước khi lên làm tổng thống. Nhận định này có phần đúng, nhưng chưa đủ để giải thích những thành quả yếu kém của TT Obama. Muốn hiểu rõ vấn đề thì phải nhìn xa hơn.

TT Obama là người có tham vọng cực kỳ lớn, tự cho mình là Đấng Tiên Trị giáng trần để đổi đời, chứ không phải để giải quyết những vấn đề thời sự tạp nhạp.

Những chuyện như giải quyết thất nghiệp, chấm dứt chiến tranh, làm hoà với đối lập, ... thật ra đều không quan trọng đối với TT Obama, bất kể những hứa hẹn khi tranh cử. Toàn là những chuyện thời sự nhất thời, đến rồi đi bất kể ông làm gì hay không làm gì. Trong đầu ông là những chuyện có tính đổi đời, có hậu quả dài hạn thay đổi đời sống người dân. Như những chuyện mà các TT Roosevelt, Johnson, hay Reagan đã làm. TT Roosevelt là cha đẻ qũy hưu trí Social Security, TT Johnson đã tặng cho dân Mỹ Medicare, Medicaid, và luật giải phóng dân da màu. TT Reagan đã mang nước Mỹ theo con đường bảo thủ trong gần nửa thế kỷ, giải thoát thế giới khỏi ách thống trị của cộng sản sau hơn 70 năm.

Đó là lý do TT Obama đã chú tâm hoàn toàn vào vấn đề Obamacare trong hai năm đầu của ông, lơ là khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp. Ông muốn đó phải là tác phẩm ông để lại cho hậu thế. Ông cũng hiểu ông chỉ có thể thực hiện được giấc mộng đó khi mà đảng Dân Chủ của ông kiểm soát cả Lập Pháp lẫn Hành Pháp, tức là trong hai năm 2009-2010. TT Obama gọi đó là “cơ hội chỉ có một lần trong đời người” (once in a lifetime window of opportunity).

Kinh tế trì trệ ở mức tăng trưởng 1%-2%, 15 triệu người thất nghiệp, ngân sách thâm thủng bạc ngàn tỷ, công nợ leo tới 16.000 tỷ, 12 triệu di dân bất hợp pháp, các qũy an sinh bị đe dọa phá sản trong thế hệ tới, tất cả chỉ là chuyện nhỏ so với cải tổ y tế sẽ khắc tên Barack Obama vào lịch sử. Ngay cả những chuyện như phí tổn cả chục ngàn tỷ của Obamacare và việc tắc nghẽn nhà thương, bác sĩ, cũng đều là chuyện nhỏ nhất thời so với việc lưu danh muôn thuở của TT Obama.

Cho đến bây giờ thì việc nguyên ê-kíp kinh tế đầu tiên của TT Obama rút lui sau hai năm đầu đã được hiểu rõ ràng hơn. Họ từ chức vì thấy rõ TT Obama không coi việc giải quyết khủng hoảng kinh tế là ưu tiên, đưa đến khủng hoảng dai dẳng, thất nghiệp dây dưa, và uy tín họ bị sứt mẻ.

Vấn đề đặt ra là tác phẩm để đời đó thật ra tốt hay xấu, có lợi cho dân hay không, và nhất là có thọ được từ thế hệ này qua thế hệ khác hay không. Đây là câu hỏi phải cả chục năm nữa mới có câu trả lời. Chỉ biết cho đến nay, đa số dân Mỹ vẫn chống Obamacare mạnh mẽ, và đảng Cộng Hòa vẫn tìm đủ cách để thu hồi luật. Chỉ cần đảng kiểm soát Hạ Viện (đã có được rồi), và Thượng Viện (hy vọng cho năm tới) thì Obamacare sẽ lâm nguy. Hay chỉ cần dân Mỹ thấy chi phí y tế ngày càng leo thang và họ không kham nổi thì cái “affordable care” cũng sẽ bị xét lại.

Một điểm đáng lưu ý: Thượng Viện mới đây đã biểu quyết khuyến cáo thu hồi điều lệ gia tăng thuế đánh trên các dụng cụ y khoa trong Obamacare. Biểu quyết thu được 79 phiếu trên 100, trong đó có 32 nghị sĩ Dân Chủ trước đây phê chuẩn Obamacare bây giờ đồng ý thu hồi điều lệ trên. Một bước đầu nhiều ý nghiã? (21-04-13)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.