Hôm nay,  

Con Cá Bống Dưới Giếng Thần

30/04/201300:00:00(Xem: 5610)


Phúc Nguyễn
Bố mẹ tôi có 5 người con, 3 gái 2 trai . Tôi là con trai út trong gia đình.
Quanh tôi chỉ có 1 anh và 2 chị còn lại. Bố mẹ tôi không bao giờ nói cho tôi biết về người chị cả của tôi. Những gì tôi biết về chị cả đều qua các chị và anh còn lại.
Chuyện người chị cả này hoàn toàn gần như một chuyện cổ tích bởi chuyện kể chị đã lấy chồng và theo chồng đi xa trước khi tôi sinh ra đời vào năm 1945.
Bao giờ và ở đâu? Tôi cũng chẳng biết
Có nghĩa là ngày tôi mở mắt chào đời cho tới 30 tháng 4 năm 1975, 30 năm đã trôi qua trong đời, tôi vẫn chỉ biết tôi có một người chị cả, đi lấy chồng ở xa và chẳng bao giờ biết mặt, ngay một bức hình tôi muốn được xem, cũng không có.
Vậy thì tôi có gì để kể lể về người chị này trong 30 năm qua đi này.
Không có gì.
Nhớ thương? Không. Đi hỏi thăm? Không. Đi tìm kiếm? Không. Thắc mắc? Không. Buồn? Cũng không luôn.
Chuyện cổ tích luôn luôn là một giấc mơ thật đẹp của tuổi thơ.
Khi trẻ thơ, tôi vẫn mang trong trái tim hai chữ Chị Cả với tất cả yêu thương mong đợi từ khi biết ngoài 3 anh chị kế tôi, tôi còn có một người chị lớn nữa.
Chỉ có thế thôi.
Câu chuyện có lẽ sẽ chẳng có gì đáng nói ở đây vì toàn là không và không nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại là bắt đầu cho những cái có trong cuộc đời của tôi về người chị cả này.
Năm 1968, tôi ra đại học Văn Khoa Saigon và bị gọi nhập ngũ cùng với tất cả bạn bè cùng khóa ra trường năm đó.
Chúng tôi cùng rủ nhau đi trình diện một ngày ở trung tâm huấn luyện Quang Trung.
Lần lượt qua những phòng khám sức khỏe, ai cũng chỉ được mặc quần sà loỏng và phòng cuối cùng là hội đồng y khoa tuyên bố kết quả giám định sức khỏe.
Bạn bè tôi gần như 100% được tuyên bố “đủ sức khỏe”.
Từng người bước ra ngoài phòng để bắt đầu đặt dấu chân đầu tiên vào đời quân ngũ. Nhìn mọi người với vẻ ưu tư trên khuôn mặt nhưng tôi không thấy và không nghe một tiếng xì xào hay than vãn gì ngoài trừ tiếng nói của các sỹ quan trong hội đồng khi đọc hồ sơ khám sức khỏe của tân binh sắp nhập ngũ.
Trước mặt hội đồng y khoa, tên tôi được gọi, tôi bước ra và đứng yên để chờ nghe quyết định của hội đồng. Họ đọc hồ sơ tôi hơi lâu hơn các hồ sơ khác. Tôi nghĩ có chuyện gì đây nhưng vẫn đứng yên chờ đợi. Cuối cùng, vị sỹ quan ngồi giữa bàn hỏi tên tôi xong tuyên bố tôi được “Miễn dịch vì lý do sức khỏe. Chân trái có tật.”
Hội đồng đóng hồ sơ tôi lại và chuẩn bị đọc hồ sơ kế tiếp thì tôi dơ tay xin nói.
Hội đồng ngạc nhiên và hỏi tôi chuyện gì vì cái quyết định miễn dịch này là một cái tin hoàn toàn vui và thiệt tốt, họ không hiểu tôi có thắc mắc gì.
Tôi nói :
- Tôi xin tình nguyện nhập ngũ.
Tôi nhớ tất cả sỹ quan trên bàn hội đồng y khoa trung tâm 3 nhập ngũ đều cười ùa lên vì có lẽ chả bao giờ họ nghe được câu nói lạ lùng này trong phòng khám sức khỏe. Chắc họ nghĩ tôi đùa hay bị chạm giây chăng?
Không . Tôi không nói đùa và cũng không bị chạm giây. Vị sỹ quan chủ tịch hỏi tôi về lý do tại sao xin tình nguyện.
Tôi trả lời ngay:
- Tôi muốn được nhập ngũ như các bạn bè của tôi.
Câu trả lời của tôi không bao giờ được chuẩn bị và cũng không bao giờ được suy nghĩ trước.
Ở ngay hôm đó và vào lúc đó, thấy bạn bè mình đi lính, mình cũng hăng tiết vịt xin đi. Thế thôi.
Nếu nói tôi xin tình nguyện đi lính vì nào là do lý tưởng hay vì lòng yêu nước hoặc thích đời quân ngũ, chắc tôi hơi loạn ngôn với đời để trở thành anh hùng rơm hay tiểu thuyết hóa đời trai thời chiến do ảnh hưởng của phim ảnh và chuyện tình đời lính lãng mạn ướt át trong văn chương báo chí.
Thật sự ra, một trong những lý do này cũng có ở trong tôi từ lâu, từ khi có cuộc chiến với cộng sản ở miền Nam này nhứt là năm cao điểm của tết Mậu Thân 1968.
Tôi đã từng có những giấc mơ được khoác lên mình bộ áo bay của phi công, đeo trên mặt cặp kiếng Ray Ban và nhếch miệng cười với một tí ria mép như Clark Gable khi đứng trước chiếc khu trục cơ AD6.
Đó là bức hình của một thằng bạn thân sau khi đậu tú tài 1, đi không quân gửi về cho tôi trong thời gian huấn luyện ở bên Mỹ. Tấm ảnh nó đứng trên cánh máy bay AD6 với một điếu thuốc trên môi vẫn luôn luôn là nỗi thèm thuồng của tôi ở tuổi trai trẻ buổi chinh chiến này.
Thế nhưng vị sỹ quan ngồi giữa hội đồng cười hề hề hỏi tôi:
- Anh có chạy được không?
Tôi đáp:
- Dạ chạy được.
Viên sỹ quan này nói tiếp:
- Tôi muốn nói chạy dã chiến vài cây số với ba lô súng đạn trên vai.
Tôi ngập ngừng đắn đo, nói nhỏ:
- Tôi không biết.
Vị sỹ quan này bèn lên cao giọng với nụ cười ruồi trên môi và phán ngay một câu:
- Thôi, về đi cha nội.
Câu nói tếu làm mọi người trong phòng cười ồ lên.Tôi chết đứng đi trong vài giây đồng hồ.
Thế là chấm dứt một giấc mộng không bình thường của tôi.
Nếu giấc mộng này trở thành sự thực hôm đó thì có lẽ tôi không có câu chuyện về người chị cả của tôi để kể ra đây với đời.
Sự thực này hoặc sẽ đưa tôi về nằm nghỉ vĩnh viến ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa hay sẽ còng lưng cuốc xẻng ở một trại tù lao động học tập cải tạo nào đó, nơi đèo heo hút gió hay tận vùng núi hẻo lánh xa xôi miệt biên giới Tầu, nơi cuộc đời sẽ luẩn quẩn chạy quanh với nhớ mong chết chóc, bệnh hoạn, sợ hãi, đói khát, canh gác và trả thù rình rập suốt 24 tiềng đồng hồ mỗi ngày và hoặc tôi, cuối cùng, có thể đang ngày đêm cầy bừa trên xứ lạ quê người xa xôi đâu đó trên quả địa cầu.
Những hay và hoặc này sẽ là đoạn kết về câu chuyện cổ tích của tôi nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1075 đã đưa tôi về một câu chuyện cổ tích mới, câu chuyện không có cá bống dưới giếng thần mà mẹ tôi hay kể cho tôi nghe khi còn bé và nay, chỉ có bo bo, khoai mì và nón cối bên cạnh.
Tôi vẫn biết gia đình tôi có ít tin tức về chị cả từ sau khi lấy chồng đi xa khoảng năm 1942, 43 dù không gặp nhau. Một ngày nào đó sau 30 tháng 4 năm 1975, tôi nghe phong phanh là chị sẽ từ ngoài Bắc vào Saigon hội ngộ với gia đình.
Tin đến với tôi với chút ít xôn xao nôn nóng trong lòng hơn tôi tưởng.
Ngày xưa chuyện cổ tích của tôi có cá bống và giếng thần, chị cả tôi là một tưởng tượng ôi thật nên thơ. Tôi thầm mơ một ngày nào đó, bà tiên cho tôi gặp chị, chắc là mừng đến rơi nước mắt mới được.

Chuyện cổ hôm nay chỉ còn có bo bo, khoai mì và nón cối bên cạnh.
Mỗi đêm, tôi không có một giấc ngủ yên dài với mộng đẹp bởi họp hành, tổ dân phố, kiểm tra với tên công an khu vực đi rảo thường xuyên khắp xóm giềng. Ban ngày, tôi không có thời gian để mơ mộng khi nhìn quanh chỉ thấy nỗi lo âu, sợ hãi và mệt mỏi của bố mẹ, anh chị, hàng xóm và mọi người.
Chiếc loa phát thanh đầu xóm là tiếng rống của một con quái vật máy ra rả nghe đến phát điên lên mỗi sáng sớm, trưa nóng hay chiều về.
Bảo tôi hãy chuẩn bị những giọt nước mắt cho một cuộc hội ngộ tương phùng lần đầu tiên trong đời được gặp người chị cả với bo bo, nón cối và tiếng quái vật như vậy, tôi nghĩ có lẽ mình phải tập dợt dữ lắm, nhứt là để đón chờ một người chị trong giấc mờ trở về với một ông chồng là… một đảng viên Cộng Sản.
Từ ngày nghe tin phong phanh đó, tôi vẫn đi làm bình thường ở thư viện Quốc Gia đường Gia Long, Saigon. Sự phong phanh mỏng đến độ nó không có chỗ đứng được trong trái tim của tôi.
Hằng ngày, tôi phải lo dọn dẹp thư viện, sắp xếp, chọn lựa sách báo để làm danh sách báo cáo cho những người từ rừng mới về muốn biết Thư Viện ở đây chứa cái gì?
Công việc nhàm chán nhưng vẫn phải làm. Chiều đến là chỉ mong hết giờ để về nhà không phải là để nghỉ mệt mà chỉ muốn ra khỏi cái nơi mình không ưa này, tránh khỏi phải nhìn những bộ quần áo mầu cứt ngựa, nón cối, dép râu và súng lục lủng lẳng bên hông với giọng nói miền Bắc quê mùa chát chúa lỗ tai tôi chưa bao giờ được nghe.
Nhìn và nghe thấy những cái không ưa trong 8 tiếng đồng hồ mỗi ngày quả thật là quá nhiều cho một ngày của tôi.
Một buổi chiều nào đó, tan sở về, chán chường, tôi đạp xe lang thang khắp phố, chả biết đi đâu và rồi định ghé lại nhà một người bạn để giết thì giờ.
Tới nơi, nó không có nhà. Tôi đành lên xe cuốc về nhà.
Đến cửa nhà, bỗng nghe nhiều tiếng lao xao trong nhà, tôi hơi ngạc nhiên và chẳng hiểu chuyện gì xẩy ra?
Có vài “giọng nói miền Bắc quê mùa chát chúa lỗ tai” trong nhà tôi vọng ra. Cái âm thanh này không phải là tin tốt cho tôi vì tôi đã phải chịu khổ để nghe nó mỗi ngày 8 tiếng từ mấy tháng trời nay cộng với khẩu súng lục lủng lẳng bên hông.
Làm sao bây giờ nó lại ở trong nhà tôi giờ này?
Tôi hồi hộp đẩy xe bước vào. Trong nhà có khá nhiều người hơn thường ngày, tôi nhìn thấy bố mẹ tôi, hai chị lớn và anh trai của tôi và vài người lạ.
Tất cả tiếng nói và tiếng động đều ngưng lại tức thì. Mọi người trong nhà quay ra nhìn tôi, người mới bước vào dựng xe.
Trong vài người lạ đó, một người đàn bà hơi đen đủi, búi tó, dáng thâm thấp, tuổi chừng các chị tôi, mặc quần dài đen và áo bà ba nâu nhạt, bước ra dang hai tay đón tôi.
Tôi nghe một tiếng nói nhỏ của bà đó, một “giọng nói miền Bắc quê mùa chát chúa lỗ tai.”
- Em.
Tôi hơi sững sờ và chưa kịp trả lời một tiếng nào thì cả thân tôi đã nằm trong vòng tay của bà, người vừa gọi tôi bằng em.
Tôi vẫn hai tay buông xuôi trong vòng tay của bà, người đứng thẳng, không nói được tiếng nào và trong chớp nhoáng, tôi biết bà đó là ai.
Người chị cả của tôi.
Tôi lặng im, không một cử động và không một tiếng trả lời. Tôi biết thân tôi đang rung động với hai cánh tay của “chị tôi”, bên vai tôi, có một khuôn mặt đang nức nở khóc và áo tôi bắt đầu ướt một bên.
Chữ đầu tiên, tôi mở miệng nói nhỏ:
- Chị cả.
Tôi nghe tiếng trả lời với nước mắt:
- Ừ ! chị đây, em là Nam phải không?
Tôi nghe nhiều tiếng nói lao xao trong nhà nổi dậy ;
- Ừ! Nó đấy, Nam đấy.
Tôi bắt đầu định đưa hai tay lên cầm hai tay chị nhưng đôi mắt của tôi không nhìn chị vì đằng sau chị, có một vóc dáng của một người đàn ông với chiếc nón cối trên đầu.
Nước mắt tôi chưa kịp chảy ra thì sự xúc động của tôi bị tắc lại tức thì bởi cái nón cối.
Tôi nhìn người đàn ông này, ông ta trông khá già, người tầm thước và xương xẩu, da vẻ hơi nhăn nheo, không đến nỗi đen, không mặc quần áo bộ đội mầu cứt ngựa nhưng có sặc nét …”Cộng Sản” trên đó.
Cái nét tôi cảm thấy đó không biết từ đâu ra, tại bởi cái nón cối? hay tại bởi khuôn mặt? hoặc do tôi bị dị ứng?
Cái sặc nét Cộng Sản đó đang đứng trước mặt mình, tôi nghe tiếng chị nói:
- Anh ơi! Nam đấy.
Tôi vẫn đứng yên. Không gật đầu chào và cũng không một cử chỉ vồn vã hay thân mật hoặc một lời nói xã giao ngoại trừ một nụ cười nhỏ trên môi để trả lời cho chữ “ Nam đấy!”
Nó lặng lẽ như những ngày tháng kế tiếp lặng lẽ trôi qua.
Nhà tôi cũng có thêm tiếng cười đùa và tiếng nói lao xao. Tôi nghe tiếng chị cả tôi và tiếng các chị kế trò chuyện hỏi han và kể chuyện gần xa, tôi không hiểu sao mình vẫn đứng ngoài câu chuyện của gia đình.
Tôi không lại gần, không hỏi thăm và cũng cảm thấy không biết bắt đầu bằng như thế nào bởi giữa tôi và người chị cả, tôi không có một hình ảnh nào, một kỷ niệm nào để khơi chuyện với chị và làm một nhịp cầu bắt đong đưa qua lại giữa hai chị em cho những ngày quá khứ.
Chị đã lấy chồng và theo chồng trước khi tôi được sinh ra đời.
Tiếng cười đùa và lao xao trong gia đình không kéo dài được lâu sau một vài ngày đầu.
Tôi bắt đầu cảm thấy có chuyện hơi lạ lùng xẩy ra.
Cho đến một buổi tối cuối tuần, nằm trong phòng, đọc sách truyện lăng nhăng, tôi thoáng nghe tiếng đối đáp từ dưới nhà bếp của các anh chị tôi.
Tiếng chị cả:
- Tháng 9 năm 1969, nghe tin bác Hồ mất, chị và mọi người ngoài đó khóc quá trời.
Tôi nghe tiếng chị ba tôi tiếp thêm:
- Trong này, em và mọi người cũng khóc.
Chị cả tôi chắc cảm động bèn hỏi dồn:
- Thế hả, thật sao?
Tiếng chị ba tôi nói ngay:
- Ừ thật. Khóc vì mừng bác chết. Sắp hết chiến tranh.
Và cứ như thế, sau 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Nam Bắc đã kết thúc ờ ngoài đời nhưng cuộc chiến ấy lại mới bắt đầu xẩy ra trong gia đình tôi trên mọi chiến tuyến.
Tôi không rõ anh chị cả đã ở lại đây bao lâu và cũng không nhớ ngày anh chị chia tay với gia đình trở về miền Bắc hay có một lời từ giã giữa tôi và anh chị được trao đổi.
Con cá bống dưới giếng thần nay đã biến thành người trên trần gian và chả bao giờ quay lại giếng xưa nữa.
Chuyện cổ tích luôn luôn là một giấc mơ thật đẹp của tuổi thơ.
Phúc Nguyễn
Kỷ niệm 38 năm mất nước – 30 tháng 4 năm 2013

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.