Hôm nay,  

Thất Bất Giảng

24/05/201300:00:00(Xem: 15670)
Bảy Điều Không Được Bàn Tại Trung Quốc – Và Tám Điều Cấm Tại Việt Nam

Văn phòng Biện Công Sảnh của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa đưa ra một chỉ thị được lặng lẽ phổ biến cho các đại học.

Biện công sảnh (hay Bạn công thinh theo cách nói tại Trung Quốc) là bộ phận lo công việc thường vụ của bộ Chính trị và ban Chấp hành Trung ương, kể cả việc ban hành chỉ thị từ trung ương xuống các cấp bộ ở dưới. Chỉ thị ở đây có tên tắt là "Thất bất giảng", bảy điều không được bàn cãi giảng giải.

Sau khi được các đại học thông báo về sự cấm đoán này, các giáo sư mới than phiền, mà vẫn phải giấu tên để khỏi bị kỷ luật. Nhờ vậy mà từ đầu Tháng Năm vừa qua, thế giới bên ngoài mới được biết về tư tưởng và chủ trương của cấp lãnh đạo mới tại Trung Quốc, thế hệ thứ năm hay "Thế hệ Tập-Lý" của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường.

Vì các trí thức Trung Quốc không được luận bàn - và học sinh sinh viên không được giảng dạy - về "bảy điều cấm", ta nên tìm hiểu xem lãnh đạo mới của Trung Quốc e ngại những gì.

Thứ nhất là các giá trị phổ cập trên hoàn vũ, "universal values".

Từ khi câu mở đầu của Jean Jacques Rousseau là "con người ta sinh ra ai cũng có tự do" trở thành tôn chỉ ghi trong hiến pháp của các nước, nhân loại đã tiến rất nhiều và chấp nhận những giá trị phổ cập. Đấy là loại quy ước có thể là bất thành văn hoặc viết thành luật theo đó con người ta phải có những quyền căn bản như tự do, dân chủ, quyền bình đẳng trong xã hội và cả quyền truy tìm hạnh phúc, thịnh vượng, v.v.... Trung ương đảng tại Bắc Kinh giăng tấm lưới khá rộng khi cấm thần dân bàn cãi về những giá trị phổ cập của thế giới văn minh. Lãnh tụ Tập Cận Bình và Ban Tuyên truyền Trung ương còn nói rõ hơn, rằng loại "giá trị phổ thế" này là một tư tưởng của Tây phương mà Trung Quốc phải canh chừng và đả phá.

Thứ hai là quyền tự do báo chí.

Các quốc gia văn minh nói đến nguyên tắc "tam quyền phân lập", là sự hiện hữu của ba cơ chế quyền lực độc lập và bình đẳng xuất phát từ người dân là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng họ còn nói đến "đệ tứ quyền" là cơ chế quyền lực thứ tư, đó là truyền thông báo chí. Quyền tự do báo giúp người dân thấy ra sự thật khách quan và có được thông tin cần thiết cho sinh hoạt thường nhật, từ kinh tế đến chính trị hay văn hóa. Dù đã duy trì chế độ kiểm soát tư tưởng và thông tin, với một Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương ngồi trong Bộ Chính trị, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn phải cấm bàn luận về tự do báo chí, cho nó chắc. Nhà nước vẫn giữ độc quyền chân lý và báo chí chỉ là con vẹt.

Thứ ba là "xã hội dân sự".

Khái niệm "civil society" là điều tương đối mới mẻ dù thực tế thì đã hiện hữu từ thời cổ, chuyện "phép vua thua lệ làng" là điều mà xã hội nào cũng có vì người dân một nước phải có khu vực sinh hoạt riêng, không do chính quyền chi phối. Nếu chú ý đến khía cạnh chính trị và quyền lực, ta có thể dịch là "xã hội dân sự" với các định chế, tổ chức hay đoàn thể phi chính phủ và độc lập với nhà nước. Nếu chú ý đến quyền sinh hoạt của người dân, trong đó có cả quyền kinh tế, người ta có thể dịch là "xã hội dân sinh" và nhấn mạnh đến thẩm quyền của người dân trước hai thế lực kia là chính quyền và các doanh nghiệp. Dù có hiểu theo cách nào đi nữa thì người dân phải có một không gian và lãnh vực độc lập và có quyền tổ chức ra các cơ quan dân sự để phục vụ nhu cầu của mình. Đã chẳng công nhận và bảo vệ xã hội dân sự, mà họ gọi là "xã hội công dân", lãnh đạo Trung Quốc còn cấm bàn về hình thái sinh hoạt văn minh này. Họ trở về thời Thương Ưởng hơn hai ngàn năm trước.

Thứ tư là dân quyền.

Là khái niệm căn bản và đầu tiên được đưa vào bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Quốc tế từ năm 1948, dân quyền hay quyền của công dân là một bước tiến của nhân loại và nay tiếp tục được mở rộng. Từ quyền tự do và bình đẳng của người dân trước hệ thống quyền lực chính trị của nhà nước, khái niệm này mở sang các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi sinh. Nó bành trướng ảnh hưởng lẫn thẩm quyền của con người để ngăn ngừa nạn độc tài và tinh thần kỳ thị vì bất kỳ một lý do nào. Phạm trù "dân quyền" là đề tài được thường xuyên tranh luận vì những biến thái thường trực của con người trong xã hội và của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Nhưng khi lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc cấm luận bàn về dân quyền thì kết quả đầu tiên là dân không có quyền.

Thứ năm là về những sai lầm của đảng trong lịch sử

Đảng Cộng sản Trung Quốc viện dẫn những thành tựu kinh tế và tinh thần của xứ sở để biện minh cho quyền lực độc tôn của mình. Nhưng trong thâm tâm, lãnh đạo của họ ý thức được nhiều sai lầm của đảng trong quá khứ. Thời Mao Trạch Đông, những đợt "Cải cách Ruộng đất" rồi "Chỉnh phong" đến "Bước Nhảy vọt Vĩ đại" qua cuộc "Đại văn cách", v.v... đã khiến mấy chục triệu người chết đói, đảng viên bị đấu, bị diệt và kinh tế lẫn xã hội bị khủng hoảng triền miên trong 30 năm hoang tưởng. Sau khi Đặng Tiểu Bình cải cách từ năm 1979, những sai lầm của đảng cũng gây nhiều thảm họa, nổi bật là vụ thảm sát Thiên an môn hôm mùng bốn Tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người thiệt mạng. Gần đây hơn lại có những vụ tham nhũng tầy trời làm rung chuyển hệ thống quyền lực trên thượng tầng...

Nhưng không một ai được nhắc đến chuyện này và căn bản nhất, chẳng ai được phép nói đến phần tiêu cực của sự nghiệp Mao Trạch Đông. Tập Cận Bình còn nhắc nhở là nếu Mao cũng bị đả kích thì cả hệ thống xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc đã gặp số phận của Liên Xô!

Thứ sáu, không được nhắc đến mạng lưới thân tộc.

Trong một nền kinh tế thị trường nửa vời, tinh thần "một người làm quan cả họ được nhờ" dẫn đến chủ nghĩa tư bản thân tộc, crony capitalism. Đó là khi đặc quyền chính trị trong đảng có thể dẫn tới đặc quyền kinh tế cho gia đình hay tay chân của đảng viên. Điều lệ đảng không cho phép đảng viên ở cấp lãnh đạo được quyền kinh doanh, nhưng thân nhân và gia tộc thì tự do, và thực tế còn được bảo vệ.

Vì vậy, hệ thống kinh tế chính trị Trung Quốc mặc nhiên định chế hóa quy luật tư bản thân tộc và còn tạo cơ hội hình thành mạng lưới thân tộc rộng lớn vây quanh các tập đoàn kinh tế nhà nước. Con cháu các lãnh tụ đều là những đại gia chia vùng ngự trị và trưng thu. Trong số này, có ảnh hưởng và quyền lợi toả rộng là con cháu các đại công thần, được gọi là "Thái tử đảng". Có tư thế lớn nhất trong phe Thái tử đảng ngày nay chính là Tập Cận Bình, con trai của Tập Trung Huân, một lão đồng chí và đại công thần từ thời Mao. Hèn gì mà không ai được nhắc đến mạng lưới cấu kết này.

Thứ bảy là quyền tư pháp độc lập.

Xuất phát từ nguyên tắc tam quyền phân lập, quyền tư pháp độc lập là một nền tảng của dân chủ. Nó đòi hỏi một hạ tầng luật pháp bình đẳng, công khai minh bạch, do người dân và đại diện của mình góp phần lập ra và được thực thi bởi một hệ thống nhân sự độc lập về chính trị lẫn kinh tế. Toà án và các thẩm phán phải có quyền diễn giải và áp dụng luật lệ mà không bị đảng, nhà nước hay các thế lực kinh tế chi phối. Các quốc gia văn minh đều phát huy và củng cố quyền tư pháp độc lập và còn giải thích rộng rãi cho người dân biết được quyền hạn của mình qua nền tư pháp đó. Trung Quốc thì chưa, và còn cấm không cho nhân dân luận bàn về các tòa án nhân dân!

Sau khi thế hệ thứ năm lên cầm quyền, thế giới bên ngoài cứ như thày bói sờ voi mà dự đoán về tư tưởng hay chủ trương của lãnh đạo mới. Chỉ thị từ trung ương xuống về "thất bất giảng" là một sự khải thị bất khả tư nghị!

Nhìn từ giác độ của đảng Cộng sản Việt Nam, bảy điều cấm này cũng là chân lý sáng soi. Nhưng đảng ta còn nêu ra một điều thứ tám: "cấm không được phê phán Trung Quốc".

Quy luật "con hơn cha nhà có phúc" của bầy Thái thú nội hóa!

Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.