Hôm nay,  

Du Mục Trên Đất Ấn

15/10/201300:00:00(Xem: 6301)
Chaungtra! Ngôi làng nhỏ thuộc bang Himachal Pradesh cực bắc Ấn Độ, một chỗ định cư của người tỵ nạn Tây Tạng.

Tôi không biết làng này. Chưa nghĩ có ngày sẽ ở lại vài hôm để không làm gì cả, ngồi đồng, nhìn núi, mây, tường vôi, đồng cỏ.

Từ khu ổ chuột Majnu Ka Tilla dành cho người tỵ nạn Tây Tạng ở thủ đô Delhi, tôi bắt xe đò đi Dharamsala cũng thuộc bang Himachal Pradesh. Lý thuyết là 12 tiếng, nhưng chạy gần 15 tiếng mới tới vùng Upper Dharamsala, quận lỵ cao gần 2000 mét dành cho đức Dalai Lama và con dân mất nước của ngài. Xe chạy trong đêm không thấy gì ngoài những cú lắc quành trên đèo, và bóng xe in trong ánh trăng trắng nhạt thủi thủi bò trên đường núi ngoằn ngoèo chật hẹp.

Rồi tôi lại được chở ngược xuống những đoạn đèo hun hút. Dưới sâu, dòng suối miên man bẻ lượn vỗ trắng xóa trên những tảng đá trắng. Thêm ba tiếng nữa trong sáng muộn nhưng sương vẫn vu vơ đây trời và giăng ngập thung lũng, đến một nơi tên là Chaungtra.

Anh họa sĩ Tây Tạng Urgyen đứng đón ở phòng triển lãm của anh, lẫn trong những bức thangka và các nghệ nhân Tây Tạng đang cặm cụi thêu các đường nét trên lụa bằng lông ngựa. Urgyen bảo tháng 8 trời mưa ít người đến, chúng ta mặc sức đi khám phá đời sống tỵ nạn, những tu viện bề thế (và nguy nga), và một căn phòng rất đặc biệt dành cho tôi muốn ở bao lâu cũng được.

Urgyen sinh trưởng ở miền đông bắc Tây Tạng. Anh xuất gia được năm năm nhưng rồi phải cởi chiếc áo hoại sắc vì chế độ. Anh tiễn mẹ lên một ngọn núi rất dốc để bà tịnh tu trên đó, người cha đã mất, chẳng còn gì. Rồi anh vượt Hi Mã Lạp Sơn đến Ấn năm 1999. Được định cư ở Dharamlasa, anh học nghệ thuật thangka trong năm năm, mở phòng tranh và dần nổi tiếng. Một số bức tranh của Urgyen được đức Đạt Lai Lạt Ma ký tên ngài. Trong một lần đi Nepal triển lãm, anh gặp Star, cô y tá người Úc qua làm thiện nguyện ở các trại tỵ nạn Tây Tạng. Họ cùng về Chaungtra làm đám cưới trong một ngôi chùa nhỏ.

Bây giờ, Star ở luôn Chuangtra, bỏ nghề y tá, học đan thiêu và mỹ thuật Nepal để làm những món quà lưu niệm kiếm sống.

Không hiểu bằng cách nào Star đã hòa nhập và hạnh phúc trong một ngôi làng hẻo lánh có vài trăm người, ngoài bìa làng là cộng đồng Ấn chẳng mấy thân thiện. Xung quanh là núi, mây, chùa, những con chó chạy rong, những đàn bò đen nghênh ngang, những đàn ngựa thồ ốm o vác nặng run rẩy bước trên những con đường rất dốc.

Và những người Tây Tạng trầm tư buồn bã, trong đó có người chồng nghệ sĩ Urgyen.

Ngôi nhà của Urgyen mới cất, có một căn phòng dành riêng để thờ Phật Di Lặc. Một bàn thờ tinh nghiêm giữa phòng có chân dung của một vị tulku (tái sinh), xung quanh treo nhiều bức thangka. Hai cửa sổ che rèm vàng óng ả. Một cái giường đơn trải thảm xanh thêu nổi, xung quanh giường viền lụa vàng. Mùi nhang trầm thấm thía cả căn phòng. Anh bảo nếu tôi không sợ thì ở trong phòng này buổi tối, ban ngày sẽ dắt lên ở trong một tu viện vắng gần chân núi, Star sẽ bới xách thức ăn vào ban trưa.

Căn phòng thiêng liêng nhất nhà dành cho người lạ vừa gặp mặt. Các ngôi chùa lớn ở Tây Tạng (không biết bây giờ còn không) thường dành một căn phòng riêng để thờ Phật Di Lặc. Có lẽ Urgyen bắt chước lệ này, nhưng lòng hiếu khách khiến anh phá lệ.

Xế chiều, Urgyen dắt tôi đi viếng đại tu viện Dzongsar do đại sư Khenpo Kunga Wangchuk, vị tulku mà anh đang thờ, thành lập. Tu viện đang có 500 tăng sinh Tây Tạng theo học. Ba dãy nhà hai tầng che ba hướng. Chính điện thờ Phật Thích Ca nguy nga, đôi mắt dài xanh thẳm nhũng trầm tư nhưng miệng mỉm cười. Bao quanh là núi mây, không gian trắng đồng cỏ xanh, và tiếng bánh xe cầu nguyện rào rạt kêu trong chiều tà.

Rồi bỗng nhiên, lướt lên tất cả, tràn trên âm vọng thiên nhiên và trong ánh nắng rơi sót giữa những làn sương trắng lưng lửng, giọng ca lanh lảnh của một phụ nữ Tây Tạng lan tỏa trên đồng cỏ núi đồi. Tiếng hát người du mục, thoát lên từ cổ, âm cao và sắc bởi luồng hơi từ lồng ngực bị bóp lại, lan ra như những mảng chất lỏng nối nhau tràn dần trên đầu cỏ lung lay.

Âm thanh lanh lảnh, chảy lan ra, như ảo ảnh loang loáng trên đồng cỏ.

Như chất mật đắng được thắp long lanh bằng ánh sáng hắt lên từ núi tuyết.

Bám vào đồng cỏ nhưng không dừng lại, tiếp nối thành những tròn tỏa rộng, để gió mang đến tận chân núi chân trời.

Không gian rung động tiếng ca, hư không bị xé rách từ âm thanh sắc bén và hùng hậu thoát từ họng người bé nhỏ.

Uygyen bảo đó là tiếng hát của những du mục phải định cư. Ở quê, họ sống trong các túp lều, mùa xuân lên ngựa lùa ngựa và bò yak về hướng núi, mùa đồng rong ngựa về miền thấp. Một cái ấm trà, vài cái bát, tấm bạt cuộn bên hông, đi theo thời tiết sống theo mùa màng. Không đâu là nhà nên đâu cũng là nhà. Chính quyền Trung Quốc xây những cụm ghetto bắt hàng trăm ngàn người du mục định cư. Người du mục có căn nhà họ không bao giờ cần trong kiếp sống này. Họ mất trời, mất đồng cỏ, mất quyền lang thang, lang bạt, giang hồ. Mất tiếng ca, mất lối sống khiêm tốn và hùng tráng, mất lối sống biết hổ thẹn với lương tâm. Người du mục mất tất cả khi mất quyền du mục.


Uygyen bảo anh thích bài hát này. Đó là tiếng kêu ‘du mục, như bóng hình ảo ảnh cỡi trên cát sa mạc, như ánh mắt nổi trôi theo gió ngàn sa mạc, du mục, không ai biết ngươi từ đâu tới, du mục, không ai biết người sẽ về đâu, du mục, chỉ có ngươi ôm kín nỗi lòng.’

Trong mỗi người Tây Tạng như đều có dòng máu lang thang. Urgyen đi liên tục. Đi triển lãm, đi tìm cảm hứng, đi tịnh tu nơi xa vắng. Cô vợ Star xinh đẹp đầy sức sống than phiền trước mặt tôi: ‘Ảnh không bao giờ đi chung với em!’ Urgyen nói có chứ, tại em quên, minh mới đi châu Âu, đi Nepal. Star mỉm cười: ‘Anh lại sắp đi Đài Loan ba tuần.’ Urgyen bảo thì anh đã nhờ chị (dâu) nấu nướng cho em rồi, có sao đâu. Star vừa đan vừa nói chuyện, rồi bỏ que đan, bồng con cho bú, lại đan, móc. Trông cô như một phụ nữ Á đông hiền thục, bỏ nước Úc tiện nghi theo người chồng nghệ sĩ tóc dài chấm vai lúc nào cũng nghĩ chuyện đi. Trong một ngôi làng rất bé nhỏ, giữa một cộng đồng có lối sống khác biệt, trong một đất nước bất an mọi thứ.

Tôi nói riêng với Urgyen mầy đi hoài như thế vợ mầy làm sao. Anh tròn đôi mắt xếch Tây Tạng, nét mặt anh lúc nào cũng thanh thản dù ngạc nhiên: ‘Sao là sao?’ Thì buồn, gia đình không vui chứ sao. Urgyen bảo không có đâu, Star lúc nào cũng vui, cô nói không nhớ gì nước Úc cả, không nhớ cha mẹ anh em, chỉ thỉnh thoảng nói thèm cà phê latte và thèm nói tiếng Anh. Tôi bảo: ‘Đừng bao giờ tin đàn bà.’ Urgyen nói sao được, tao mới về Tây Tạng thăm mẹ, phải leo lên một ngọn núi rất dốc để thăm bà mẹ bảy mươi chín tuổi đang tịnh tu trên đó, bà bảo con đừng về nữa, miễn con yên ổn là được rồi.

Anh nói: ‘Phải tin mẹ chứ.’ Không tin mẹ thì tin ai, nhưng trong đời sống này đừng tin người đàn bà nào cả trừ mẹ mình. Urgyen nhìn tôi đăm đăm. Nét mặt anh trầm lắng một cách lạ thường.

‘Rồi khi mất mẹ?’

‘Làm người du mục.’

Urgyen chạy băng qua đồng cỏ. Mái tóc dài đen mượt của anh tung chấp chới. Tiếng hát vẫn loang loáng vang xa, cao ngất, khóc ngất, mây ngất trời chùng xuống dạt ra cho bàn chân du mục chạy về đâu, tiếng hát quyện về đâu, chân trời chết tận đâu.

Urgyen gửi tôi vào một tu viện nhỏ. Một căn phòng lạnh chỉ có tường trắng. Buổi trưa hai vợ chồng mang thức ăn lên. Buổi tối họ nhờ người anh lái xe lên đón về nhà. Cả nhà đều ăn chay kể cả hai đứa nhỏ. Mỗi người mỗi đĩa, lặng lẽ ăn trong mùi hương trầm quyện đặc. Khuya khoắc, Urgyen ngồi tụng kinh trong phòng khách. Trước khi tụng anh lại cất tiếng hát, hay có thể là một bài kinh gì đó có âm điệu đặc biệt. Giọng anh u ơ tỏa ra trong bầu khí lắng đọng âm u của làng quê vắng vẻ. Rồi anh vào phòng coi tôi ngủ chưa, bảo ‘mai dẫn đi coi bói’.

Hai vợ chồng dắt theo đứa con gái đầu Tergini 7 tuổi cùng đi. Tergini trắng bong như mẹ, chỉ có đôi mắt giống cha. Chúng tôi đến một tu viện Tây Tạng lâu đời nhất ở làng, đi nhiễu xung quanh chính điện theo truyền thống Tây Tạng, rồi vào hậu viện gặp một vị sư đã lớn tuổi. Ông pha trà bơ, lấy một cuốn sổ nhỏ bằng bàn tay đã rách cũ viết đầy Tạng ngữ, bìa cuốn sổ có treo một chùm giây cũng cũ mèm. Ông hỏi Star muốn hỏi cái gì.

‘Con muốn biết nên cho Tergini học ở nhà hay đến trường?’

Ngôi làng có một trường tiểu học. Star vừa đan móc vừa dạy con, cô muốn cho con học ở nhà hết bậc tiểu học theo chương trình Úc chứ không muốn cho con theo chương trình Tây Tạng. Vị sư lần những sợi giây trên bìa cuốn sổ. Ông trầm ngâm, thỉnh thoảng đưa cuốn sổ lên trán.

‘Học ở nhà tốt hơn.’

Star reo lên. Hai mẹ con ôm nhau mừng rỡ. Vị sư nói thêm:

‘Người du mục đi đâu mang con cái theo, có ở một chỗ đâu, tùy trời.’

Ông mặc nhiên coi Star thuộc cộng đồng Tây Tạng, như đó là cá tính của người du mục, không ước lệ, đón nhận sự xa lạ như lẽ tự nhiên. Tùy trời mà.

Ông dẫn chúng tôi lên tầng trên cùng của điện chính. Đó là khu không dành cho công chúng. Bên trong thờ các vị thành tựu từng tu trong động núi Hi Mã Lạp Sơn. Ông bảo tất cả ngồi xuống, rồi như một cách dạy không lời, ông xếp bành, nhắm mắt, mũi khịt nhiều tiếng mạnh rền cả căn phòng. Cô bé Tergini sợ hãi ngó quanh quất.

Buổi trưa, tôi từ giã để lên khu Upper Dharamsala. Star bảo nếu thích thì cứ ở đây, hằng ngày hai vợ chồng sẽ bới xách vì đó là cách sống của người Tạng, khi nào hết visa thì xin tiếp. Người Tạng rất hạnh phúc khi làm những việc như vậy, cô bảo.

Tôi nói phải đi, ở một chỗ không yên vì đã thành người du mục. Du mục mà không được lang thang thì giết quách họ cho rồi. Urgyen liền bắt lấy câu nói, bảo vợ:

‘Em thấy chưa, bởi anh phải đi hoài là vậy.’

‘Thì em nói gì đâu, chỉ xin anh đi theo thôi mà.’

‘Em mới là bán du mục,’ giọng Urgyen trầm xuống. ‘Đôi khi anh muốn một mình, đôi khi anh muốn đi một mình.’

Tôi vác ba lô ra cửa. Bên ngoài anh của Urgyen đã nổ máy xe chờ sẵn cho một đoạn đèo trắc trở nguy nan trèo lên miền Thượng. Chợt bé Tergini vít tôi ngồi xuống, đưa hai tay xoa má, nước mắt ứa ra lặng lẽ.

Đời du mục, mấy ai đưa, khi đi cũng được những giọt lệ thơ ngây trong trắng.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.