Hôm nay,  

Thương Chiến Mỹ-Nga

08/03/201400:00:00(Xem: 12617)
Trận chiến kinh tế giữa Mỹ và Nga về vụ Ukraine...

Trưa Thứ Năm mùng sáu, Tổng thống Barack Obama xuất hiện trước báo chí để công bố quyết định trừng phạt Liên bang Nga qua một Sắc lệnh Hành pháp. Ngay lập tức, từ Âu Châu, Ngoại trưởng John Kerry khai triển thêm chi tiết về quyết định này. Tiếp theo, Hạ viện Hoa Kỳ biểu quyết đạo luật kết án Liên bang Nga và yêu cầu Hành pháp tăng áp lực về cả chính trị (như trục xuất Nga ra khỏi nhóm G-8) lẫn kinh tế để Moscow phải tôn trọng chủ quyền của Ukraine và cả bán đảo Crimea hiện đang bị Nga khống chế, với Quốc hội trong tay Nga vừa biểu quyết việc đưa Crimea vào lãnh thổ Nga....

Khi trận đấu giữa Tây phương và Liên bang Nga chuyển dần từ lãnh vực ngoại giao và chính trị qua kinh tế, nhiều người hoài nghi kết quả thực tế của biện pháp trừng phạt. Thay vì chạy theo tin tức cứ dồn dập thay đổi từng giờ, chúng ta nên lùi lại để nhìn toàn cảnh của mặt trận kinh tế giữa đôi bên - đúng hơn nữa, mặt trận tay ba, giữa Nga, Âu và Mỹ....

***

Liên bang Nga có nền kinh tế trị giá hơn hai ngàn tỷ Mỹ kim một năm, từ 2.500 đến ba ngàn nếu tính theo tỷ giá mãi lực của đồng bạc (PPP), và có dự trữ ngoại tệ khoảng 650 tỷ đô la. Nền kinh tế nay đang bị suy trầm, với đà tăng trưởng giảm sút từ hơn 3% vào năm 2012 xuống chỉ còn chừng 1,3% năm 2013, và đồng Rúp bị mất giá nặng.

Kinh tế Nga sống nhờ xuất cảng, nhiều nhất là dầu thô và xăng dầu (55% tổng số xuất cảng), kế tiếp là khí đốt (15%), sau đó mới là hàng bán chế (chế biến một phần), hoá chất, máy móc, v.v... mỗi loại đều dưới 10%, thấp nhất là nông sản và hàng công nghiệp. Trong số xuất cảng của Nga, thị trường Liên Âu mua chừng 53%, Đông Âu và Trung Âu mua 12%, còn lại là các thị trường khác, và thấp nhất là thị trường Mỹ, chỉ khoảng 2,5%. Muốn có khả năng xuất cảng đó, Nga cũng phải nhập cảng, nhiều nhất cũng từ Liên Âu, 42%, sau đó là Trung Quốc, chừng 17% và các xứ khác, ít nhất là từ Hoa Kỳ, chưa tới 5%.

Trong quan hệ kinh tế Nga-Mỹ, năm qua Nga bán hơn 20 tỷ đô la hàng hóa cho Mỹ (hơn 19 tỷ là sản phẩm hóa dầu) và mua của Mỹ máy bay dân sự, xe hơi, hoá chất, thịt và nông sản, nhưng cũng chẳng nhiều và thật ra không thể chết vì một lệnh cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ. Thị trường cổ phiếu Nga có kết giá chừng 870 tỷ đô la mà giới đầu tư Mỹ chỉ nắm có 6%, cho nên nếu họ có bán tháo – và bị thiệt – thì cũng chẳng làm thị trường tài chánh của Nga sụp đổ. Ngoài ra, Hoa Kỳ (và các nước Âu Châu) cũng chẳng giữ đồng Rúp trong khối dự trữ ngoại tệ nên chẳng thể bán tiền Nga để đánh sụt đồng bạc. Họ phải tính cách khác.

Chỉ nhìn vào những nét chính này, ta có thể rút tỉa vài kết luận: kinh tế Nga gắn bó với thị trường Liên Âu hơn Hoa Kỳ, cho nên biện pháp trừng phạt, cấm vận hay phong tỏa của Mỹ ít hiệu quả.

Hoặc nếu muốn có tác dụng có thì phải mở ra một phạm vi rộng lớn, với sự hưởng ứng của các nước Âu Châu. Bàn cờ kinh tế Mỹ-Nga vì vậy là bàn cờ tay ba, Mỹ-Âu-Nga, với Âu Châu giữ vị trí bản lề ở giữa.

***

Ngày 26 Tháng Giêng, khi tình hình Ukraine biến động, Phụ tá Ngoại trưởng Victoria Nuland (đặc trách về Âu Châu và đại lục địa Âu-Á, tức là bao trùm lên Liên bang Nga) có cuộc đàm thoại với Đại sứ Mỹ tại Kiev với một lời phát biểu nặng nề được tình báo Nga tung ra hôm mùng sáu Tháng Hai để gây chia rẽ trên trận tuyến Âu-Mỹ. Xin tạm dịch lời phát biểu (F. the EU) cho nhẹ, là "kệ mẹ hay tổ cha Liên Âu!"

Đấy có thể là quan điểm chung, và rất thực, của Hoa Kỳ về khả năng tác động của Liên Âu khi các nước Âu Châu không dám làm mạnh để bảo vệ Ukraine. Đấy cũng có thể là lời nói khích, nhằm thúc đẩy các nước Âu Châu lên lưới để gây áp lực với Moscow.

Chẳng suy đoán thêm về sự thể thì người ta cũng thấy là sau đó, các nước Âu Châu có thái độ dứt khoát hơn. Cuối cùng thì ba Ngoại trưởng Ba Lan, Pháp và Đức bay qua Kiev, trực tiếp tham gia cuộc vận động với Chính quyền Viktor Yanukovich và các lãnh tụ biểu tình, với kết quả là Quốc hội Ukraine truất phế Yanukovich và xây dựng một hệ thống lãnh đạo khác từ ngày 22 Tháng Hai. Theo quan điểm của Tổng thống Nga Vladimir Putin thì đây là "một vụ đảo chánh của bọn cực hữu quá khích " và "vi phạm Hiến pháp 2004 của Ukraine", là lý cớ cho việc Nga can thiệp bằng quân sự tại Crimea. Vụ khủng hoảng quốc tế tại Ukraine bùng nổ hôm 26.


Và trong 10 ngày qua, người ta thấy ra sự rạn nứt trong chiến tuyến Âu-Mỹ.

Vì lệ thuộc vào khí đốt của Nga, Đức không muốn trục xuất Nga ra khỏi nhóm G-8. Cựu Thủ tướng Đức Gerhard Fritz Kurt Schrưder thuộc đảng Dân chủ Xã hội SDP vừa thất cử năm 2005 là đi làm Chủ tịch một công ty vệ tinh của Gazprom của Nga ở tại Đức, rồi làm tư vấn cho tập đoàn khí đốt số một này của Putin, nên trong nội tình nước Đức, chưa nói xứ khác, cũng đã gây dị nghị. Nước Pháp thì vẫn muốn xúc tiến việc bán hộ tống hạm Mistral cho Nga và Ngoại trưởng Laurent Fabius cho biết Pháp vẫn tôn trọng những thoả thuận quân sự với Nga. Còn Thủ tướng Anh không đồng ý với việc Mỹ truy lùng và cấm đoán nghiệp vụ tài chánh của các tài phiệt Nga ở trong thị trường Anh quốc. Nhiều doanh nghiệp Âu Châu, như BP hay Shell, cũng cho biết là họ không giảm hoạt động với thị trường Nga.

Vì đồng tiền nó liền khúc ruột, ta không thể nói về chuyện đạo lý, mà vẫn có thể nhớ đến một danh ngôn tương truyền là của Lenine: "bọn tư bản sẽ bán (chịu) cho ta sợi dây để treo cổ chúng!" Nhưng người ta vẫn có thể nêu câu hỏi là cuối cùng thì tại sao nền kinh tế Xô viết lại sụp đổ lên chính nó khiến Liên Xô tan rã?

Bây giờ, hãy tìm hiểu tiếp xem Hoa Kỳ có thể làm gì, với đồng minh Âu Châu và đối thủ là Liên bang Nga?

***

Sự thật kinh tế là biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ về ngoại thương và tài chánh chỉ có kết quả nếu Liên Âu tham dự.

Âu Châu giữ hơn phân nửa ngạch số ngoại thương Âu-Nga và làm chủ ba phần tư tổng số đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vào thị trường Nga. Âu Châu cũng tiêu thụ năng lượng của Nga, nguồn tài nguyên đem lại một phần tư sản lượng kinh tế và hơn phân nửa số thu ngân sách Nga. Kinh tế Liên Âu lại chưa ra khỏi vụ khủng hoảng Euro và nạn suy trầm nên chẳng ai ở đây lại muốn chết, hay vỡ nợ, vì dân Ukraine.

Lời phát biểu của Victoria Nuland có nội dụng sâu rộng hơn ta nghĩ!

Nhưng Hoa Kỳ vẫn có thể dọa già ra quyết định trừng phạt mọi doanh nghiệp làm ăn với Liên bang Nga, dù là của Liên Âu hay Hoa Kỳ. Chưa biết rằng điều ấy có tính chất khả tín và khả thi tới mức nào thì ta đã thấy Hạ viện Duma của Nga biết sợ mà soạn thảo một dự luật trả đũa: sẽ tịch thu tài sản của các doanh nghiệp Âu Châu và Hoa Kỳ nếu có lệnh cấm vận. Lãnh đạo Nga có tin thật như vậy và hăm trước hay không, chúng ta khó biết.

Tuy nhiên, trong màn đấu trí trên bàn cờ kinh tế này, ta không thể quên một quy luật, như người viết đã nhiều lần nhắc tới, "liều thì được, nhu nhược thì thua". Nôm na là không sợ thì sẽ thắng.

Trong tháng qua, biến động tại Ukraine đã gây hốt hoảng cho các thị trường trên thế giới, nhưng với kết quả dội ngược về nước Nga, mỗi ngày, chính quyền Putin phải chi ra hơn 10 tỷ đô la để giữ giá cho đồng Rúp. Mười ngày là trăm tỷ và dự trữ 650 tỷ không thể là bất tận!

Và nếu trận chiến kinh tế bùng nổ toàn diện, với Hoa Kỳ và Âu Châu đứng cùng một chiến tuyến, Âu Châu sẽ thiếu khí, nhưng kinh tế Nga bị tai họa còn nặng hơn nữa.

Giả thuyết Âu-Mỹ cùng thống nhất hành động có xác suất thấp, chưa kể là nhiều doanh nghiệp Mỹ, từ Boeing tới ExxonMobil, sẽ phàn nàn và vận động ngược. Nhưng lãnh đạo Hoa Kỳ, Hành pháp và Lập pháp, vẫn có thể lấy những quyết định không cần tới sự hưởng ứng của các nước Âu Châu đang làm ăn với Liên bang Nga.

Thứ nhất là duyệt lại các hiệp ước quân sự Mỹ-Nga và mở ra một cuộc thi đua võ trang Nga Mỹ. Trong một kỳ khác, chúng ta sẽ tìm hiểu chuyện này. Thứ hai là rà soát lại chánh sách năng lượng để tác động vào thị trường dầu khí toàn cầu, trong đó có thị trường Âu Châu và Nga. Trận chiến về năng lượng không lập tức có hiệu quả, nhưng nếu được áp dụng thì sẽ thực tế giải giới nước Nga, vì đánh sụt giá dầu thô và khí đốt và giải phóng Âu Châu khỏi sức ép của Nga.

Phần còn lại, và đây mới là vấn đề, Chính quyền Barack Obama có dám nghĩ tới một cuộc chiến rộng lớn và dai dẳng như vậy chăng?

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.