Hôm nay,  

Thương Nhớ Lề Đường Sàigòn

4/15/201400:00:00(View: 7737)

blank
Chân dung Đào Như.

Về thăm nhà, có người thấy Lề-đường-Sàigon ngày nay bị kinh tế thị trường tăng tốc xâm lấn quá nhiều, trở nên xô bồ, xui lòng nhớ lề đường Sàigòn xưa.

Lề đường Sàigòn xưa có hàng me, có sông Sàigòn có Bến Bạch Đằng, có những quán kem, quán càfé, quán ăn vỉa hè, lúc nào cũng bu quanh bởi đám học trò, sinh viên, giới trí thức, các thầy, các cô, giới lao động, giới taxi, giới xích lô, ba gát, bang bù và cả lính tráng, sĩ quan nữa. Họ ăn đứng, ăn ngồi, những tô hủ tiếu, tô phở, bún riêu, bún ốc, bún bò, những đĩa ra-gu bánh mì, cà ri bánh mì thơm phức…Hay những chén Kem nhiều màu. Những ly cà phê đá. Những ly chè đậu xanh, đậu đỏ, sâm bổ lưỡng…vun đầy đá bào, đá nhận. Sàigòn mà không còn ba món này, không có mấy hình ảnh này thì không còn là Sàigòn nữa. Những sinh hoạt bình dị này nhiều lúc lấn át cả những nhà hàng, những hotels: Continental, Caravelle, Pacific, Pagoda, Imperial, Givral…vì những thực khách của những quán ăn sang trọng theo kiểu Tây này cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Saigòn. Ngoài những giới trí thức, nhà giàu người Việt, còn có cả những ‘ông Tây bà đầm’, những người ngoại quốc, Chà Và, Tàu, Campuchia. Họ đến ăn ở đây, không phải chỉ vì nơi này họ mới có thể thưởng thức những món ăn thuần túy Việt nam, thuần túy Á đông, mà chính tại đây họ còn khám phá ra được nét đặt thù của Saigòn, của người Sàigòn, ‘Saigonais’.

Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao những tiếng rao hàng lúc nửa đêm trên lề đường của khu Bàn cờ, Nguyễn Thiện Thuật, Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên: ’bánh ú hột vịt lộn, hôn?’, ‘bánh bò giò cháo quẫy bánh tiêu, hề’. Mới nghe thì không hiểu món gì, khi mua rồi, ăn thì cũng không thấy gì là tuyệt vời lắm, nhưng hương vị thật là gần gũi thân thương. Người ăn và món ăn gặp nhau như sư kết nghĩa. Có người xa xứ lâu năm, khi trở lại Saigòn gặp lại những món ăn này mà hồn nhớ về những người bạn của tuổi học trò sau Chùa Kỳ viên, khu Nguyễn thiện Thuật, khu Bàn Cờ với những Kim Cúc, những Bich Hằng, những Quỳnh Liên(1)…những mối tình đầu của quá khứ xa xưa. Thế mới hay, những lề-đường-Saigon không kiêu sa, không hương sắc màu mè nhưng đậm đà tình nghĩa.

Xa Saigòn, không mấy ai xa được những ngã ba, ngã tư, ngã năm, ngã sáu, ngã bảy. Làm sao quên được lề đường của Ngã Tư Quốc Tế. Cái lề đường ấy Quốc tế thật. Quốc tế quá cỡ! Cứ vào lúc gần giờ giới nghiêm, các vũ trường Lido, Baccaret, Côte d’Ivoire… gần đó đóng cửa, các cô cava thoát ra chóan gần hết chỗ lề đường Ngã Tư Quốc Tế. Mặt còn bự son phấn hai tay bê tô cháo lòng, tô bún ốc nóng, thơm và cay mùi tiêu, các cô húp vội vào lòng để thỏa mãn cơn đói. Thế mới biết với các cô, ‘nhảy’ chì là một nghiệp dĩ lao động dành cho cuộc sống độ nhật nuôi thân.

Sàigòn có nhiều ngả. Đường Sàigòn có nhiều lề. Người Sàigòn đi trên nhiều lề đường. Sàigòn có nhiều ngả đi cũng như ngả đến. Người Saigòn chưa từng bị bắt buộc đi trên một lề đường bên trái hay bên phải. Người Sàigòn phóng túng đi trên đường Tự Do, Công Lý, Độc Lập, Thống Nhất….Lề đường Sàigòn xưa đã từng mang những tên nói lên niềm ước mơ của thời hiện tại.

Lề đường Sàigòn chịu đựng hai mùa mưa nắng. Nắng Saigòn trong như thủy tinh như Trịnh Công Sơn thường ngợi ca. Nguyên Sa-Trần Bích Lan đã từng đi dưới nắng của Saigòn mà cao hứng: “Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát- Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông..”. Ố hay! Thế mới biết có sự liên kết trong tâm tưởng của Nguyên Sa giữa cái nắng của Sàigòn và màu trắng của lụa Hà đông năm nào. Cả hai đều để lại trong lòng người xa xứ những hoài niệm. Sàigòn có những cơn mưa rào chợt đến chợt đi. Khi đến thì rạo rực như thác ngàn, như tình yêu ‘Em Sàigòn’, khi đi thì lăng lẽ như mơ, để lại những lề đường ướt át, một chút ủ dột trong lòng người. Lề đường Saigòn cũng tình tự Nhạc và Thơ: “Mưa Sàigòn mưa Hà nội” nghe như niềm thổn thức của Phạm Đình Chương, đứng dưới mưa, trên lề đường Sàigòn, nhớ về năm cửa Ô Hà nội. Thế mới hay, các nhà thơ, các văn nghệ sĩ đã nhìn thấy một Hà nội giữa Saigòn thuở ấy… Cũng như Hà Nội, Saigòn, nơi ‘lắng hồn núi sông’. Nói đến lề đường Sàigon mà không nói đến Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Chu Tử, Duyên Anh…thì coi như trớt quớt. Những ông này đã hóa ra người thiêng cổ. Nhiều người Saigon không tin là mấy ổng đã chết. Mấy ổng còn đâu đó ngày ngày đi lại với họ trên lề đường Sàigòn bán sách sol. Nhất là ông già Vương Hồng Sển, ông già này mới thật là ngộ. Ăn ở đời với Cô Năm SaĐéc hơn nửa thế kỷ mà chưa phỉ tình, ông còn bóng bẩy viết thành truyên ký: “Năm Mươi Năm Mê Hát”. Duyên Anh thấy vây mới bảo ông này già mà còn ham...Duyên Anh và cụ Sển đã về trời. Không hiểu họ đang ở đâu đâu? Mấy đời mà hai ông này chịu xa Saigòn. Biết đâu họ đang ngồi chồm hỏm trên lề đường Saigòn bàn chuyện thế tục: “Sàigòn Ngày Dài Nhất”, “Sàigòn Tạp Pín Lù”,“ Saigòn 31 tháng Tư” ”. Mấy ‘Cha’ ở Hà Nội nghe mấy cái này chắc giận. Họ sẽ la bài hãi đâu có “31 Tháng Tư”…Nói đến lề đường Saigon thì nhớ cụ Phạm Duy. Mỗi khi nhớ cụ Phạm Duy thì phải nhắc tới lề đường Saigòn. Cụ Phạm, nếu cụ còn sống đến giờ, cụ nghe chắc Cụ sẽ rầy rà: “bỏ đi Tám- ‘tao’ mà thuộc bọn lề đường hả? ”. Xin lỗi cụ Phạm, Cụ ắt hẵn là người của lề đường Saigon rồi. Mời cụ nghe lại chính Cụ: “Nghèo mà minh không ham. Xin cô em đừng nên quá đáng. Nghèo mà mình không ham. Xin anh hai đừng nên làng chàng…”. Sau khi xa xứ hơn 30 năm, có đứa hơn 35 năm, đã hơn hai thứ tóc trên đầu, tụi nầy thỉnh thoảng vẫn nghêu ngao bài hát này của cụ, đôi khi thấy mắt mình cay xè, không hiểu tại nhớ cụ hay nhớ nhớ lề đường Sàigòn.

Lề đường Saigon có những hình ảnh đẹp khó quên, có bác xích lô ngủ trưa ngay trên chiếc xích lô của mình dưới bóng cây me trên lề đường Sàigòn, sau khi uống chai la de Trái Thơm-La Rue, và loáng thoáng nghe những bản nhạc tình cảm “Mùa Thu Chết” hay “Gái Lội Qua Khe” từ một quán cóc hay quán càfé gần đâu đó. Có người khách nhìn bác xich lô đang ngủ, họ lắc đầu, họ không dám đánh thức bác xich lô mặc dầu họ đang cần bác…Đó là tinh thần của lề đường Saigòn xưa. Đó là phong cách của người Saigòn xưa.

Cuộc sống trên lề đường Sàigòn siêu thoát, phàm tục, trắng đen, xanh đỏ, chan hòa màu sắc và cảm xúc tạo thành bức tranh Lề đường Saìgòn ngộ nghĩnh không giống ai hết, cũng không chịu cho ai giống mình. Saigon trước 75, Sàigòn thời chiến tranh, có biết bao biến động lịch sử xảy ra trên vùng đất quê hương này. Ấy thế mà mỗi khi chúng ta nhớ lại những kỷ niệm ở Saigon, những lề đường Saigòn chúng ta cứ như nhớ về một vùng đất nước thanh bình, thời vàng son của một đời người trong một xã hội ổn định. Nhớ về Sàigòn, nhớ đến sông Sàigòn như giải khăn sô vắt ngang vầng trán, đêm đêm chảy vào lòng người Việt xa xứ./.

Đào Như

Oak park. ILL. USA

[email protected]

GHI CHÚ

(1)-Tên những nhân vật nữ này hoàn toàn hư cấu, nếu có trùng hợp xin đừng ngộ nhận-Tri ân-Đào Như

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.