Hôm nay,  

Vô Hiệu Hóa Công Hàm Bán Nước

6/20/201400:00:00(View: 5118)

Có rất nhiều ý kiến, nhiều bài viết của cả lề đảng lẫn lề dân phân tích, bàn luận nhằm hóa giải công hàm của ông Phạm Văn Đồng, cố thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và cũng là thủ tướng của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay. Tất cả lý giải nguyên nhân lẫn hậu quả, bênh hay lên án công hàm đều không thể phủ nhận được thực tế là đảng Việt Cộng đã “nhượng, bán (?)” cho Tàu Cộng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và việc “buôn bán” không chỉ cô đọng trong bằng chứng công hàm Phạm Văn Đồng mà việc bán buôn này còn được củng cố qua một số bằng chứng khác do bộ ngoại giao Tàu Cộng công khai công bố.

Trong số bằng chứng được tàu cộng trưng dẫn, có lời nói của thứ trưởng ngoại giao Ung Gia Khiêm trong cuộc tiếp xúc với giới chức cao cấp của Tàu Cộng từ giữa thập niên năm mươi của thế kỷ trước rằng: “...Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc..." cùng với lời của vụ trưởng, vụ Á Châu Lê Lộc: “...Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống...”(?)

Bên cạnh các phát ngôn của các cán bộ cao cấp đảng cộng sản theo thứ tự thời gian, Tàu cộng còn trưng dẫn hình ảnh, tài liệu là tập bản đồ thế giới, bản đồ phủ thủ tướng do cục đo đạc của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa in ấn xuất bản vào tháng 05/1972 có ghi chú quần đảo Trường Sa bằng tên Tàu và trong sách giáo khoa lớp 9 xuất bản năm 1974, môn địa lý giới thiệu về nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa có đoạn viết: “...Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn..., các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức 'Trường Thành' bảo vệ Trung Quốc đại lục..."

Thật ra, căn cứ vào các bằng chứng do bộ ngoại giao Tàu cộng công bố, có những lời phát ngôn lẫn tài liệu, hình ảnh liên quan đến việc lãnh đạo các cấp của đảng Việt Cộng tuyên bố công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Tàu Cộng. Thế nhưng, thực tế những bằng chứng đó không chứng minh được điều gì cả, nó không có giá trị pháp lý lẫn lịch sử, chứng minh Tàu cộng có chủ quyền trên hai quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Những bằng chứng do Tàu Cộng công bố chỉ chứng minh được một sự thật không thể chối cãi là đảng cộng sản, chính xác hơn là tập thể tay sai lãnh đạo đảng Việt Cộng nhiều thế hệ bán nước cho đảng Tàu Cộng mà thôi!

Thế cho nên những người yêu tổ quốc Việt Nam, không yêu mơ hồ tổ quốc “xã hội chủ nghĩa”không nên bỏ thời giờ vô ích vào việc phản biện, lý giải, phân tích, phản bác trên cơ sở pháp lý lẫn lịch sử về công hàm Phạm Văn Đồng, đại diện nhà nước Việt Cộng thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Tàu Cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Lý do đơn giản là bởi hai đảng man rợ Tàu - Việt này là băng đảng xã hội đen, hành xử lưu manh, côn đồ chỉ sử dụng có mỗi luật rừng. Chúng không có thói quen căn cứ trên cơ sở luật pháp của loài người văn minh nên mọi lý lẽ trên nền tảng luật pháp quốc tế không thuận theo ý đồ đen tối đều vô gía trị đối với băng đảng rừng rú này. Do đó mọi thiện chí lý luận, biện giải trên nền tảng luật pháp hợp tình hợp lý của loài người văn minh đều trở thành mất thời giờ vô ích vì không thể giải quyết, không có gía trị gì đối với chúng cả!

Lẽ khác, dù có tài thánh cũng không ai có thể biện hộ hay chạy tội được cho hành động bắt tay, cấu kết thực hiện âm mưu bán nước, cướp nước của hai băng đảng gian manh Tàu - Việt và chuyện Hoàng Sa, Trường Sa, chuyện biển đảo được Tàu Cộng trưng ra bằng chứng “bán nước” của Việt cộng chỉ là một phần trong tổng thể kế hoạch thôn tính Việt Nam của Tàu Cộng có sự tiếp tay của bọn tay sai Việt cộng nằm vùng là sự thật bán nước không ai có thể viện dẫn lý do để chạy tội hay đổ vấy cho nhau của lãnh đạo đảng cộng sản từ đời đầu, đời giữa cho đến đời nay.

Lãnh đạo đảng cộng sản đời nay không thể đổ tất cả tội lỗi bán nước cho ông thủ tướng Phạm Văn Đồng mà không có phần trách nhiệm của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn...Cũng như thế hệ lãnh đạo đời nay gồm Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang... không thể đổ cho hậu quả của lịch sử để lại hay đổ tội cho Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh... hoặc đổ cho giàn khoan HD – 981 xâm phạm lãnh hải thuộc chủ quyền Việt Nam là do tội lỗi Tàu Cộng gây ra và họ không chịu trách về hành động xâm lăng trắn trợn này?

Có lẽ không ai là không biết, trước khi Tàu Cộng mang giàn khoan khủng vào lãnh hải Việt Nam hút dầu thì trước đó chúng đã thể hiện nhiều động thái ngang ngược như bắn giết, đánh đuổi, bắt ngư dân đòi tiền chuộc, ra lệnh cấm đánh bắt cá trong ngư trường truyền thống của Việt nam cũng như chúng đã cắt cáp tàu Bình Minh II thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, truờng sa của Việt Nam... cùng với nhiều hành động man rợ, rừng rú khác nữa.


Hành động xâm lăng của Tàu Cộng đã rõ nhưng giới lãnh đạo cao cấp đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam đều ngậm miệng, câm như hến không dám triệu tập đại sứ Tàu đến phản đối dằn mặt như nhà nước Phillipines đã làm đối với Tàu Cộng. Lãnh đạo đảng, nhà nước chỉ dám như bọn ăn trộm lén lén lút lút gởi công hàm phản đối và cho chiếc loa rè của bộ ngoại giao phát ngôn lặp đi lặp lại: “...Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể tranh cãi...”

Qua phản ứng cho chúng ta thấy, thái độ của lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam không thể hiện ý chí, không khẳng định Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã gián tiếp biểu lộ sự tán thành hành động xâm lược của Tàu Cộng và phản ứng yếu ớt của lãnh đạo đảng cộng sản chỉ ra sự tiếp tay, ngầm đồng tình với quân cướp nước đã quá rõ.

Dù vậy, có thể vì tình cảm, vì tinh thần yêu nước nên đã không có ít người cố gắng đem sở học, khả năng trí tuệ nhằm mục đích hóa giải công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng mà không biết rằng mọi cố gắng đều trở thành công cóc, đều vô ích vì công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là một công hàm bán nước bị lộ trong số công hàm, văn kiện bán nước chưa bị lộ của Việt gian cộng sản. Hiện nay, trừ một số lãnh đạo tối cao của đảng cộng sản đương quyền, không ai có đủ thẩm quyền, đủ điều kiện tiếp cận để biết được thật sự còn bao nhiêu công hàm, văn kiện bán nước của đảng Việt Cộng đã bán nước toàn diện cho đảng Tàu Cộng cùng với nhiều bí mật kinh khủng chưa bị lộ của đảng cộng sản Việt Nam?

Chỉ với một công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng đã làm tiêu hao biết bao giấy bút, trí lực của biết bao nhiêu người Việt còn nặng lòng với tổ quốc của cha ông ngàn đời để lại? Thế thì thử hỏi với một chục công hàm, văn kiện bán nước cùng với nhiều sự thật kinh khủng khác chưa bị lộ, chắc chắn không còn ai có thể, có khả năng hóa giải, chạy tội cho đảng cộng sản được nữa. Do đó, thay vì tập trung sức lực vào việc gỡ thế bí, làm vô hiệu hóa công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng và cho dù có vô hiệu hóa được đi chăng nữa, chúng ta cũng không đủ sức cũng như không thể lý giải, biện hộ để xóa trắng những công hàm, văn kiện những bí mật động trời của hai đảng Tàu - Việt thậm thụt đi đêm đổi chác buôn bán trong suốt mấy mươi năm tương sinh, cộng sinh của hai băng đảng cướp - giết man rợ này.

Xét toàn bộ quá trình quan hệ ngoại giao đã được bạch hóa từng phần của hai đảng, hai nhà nước độc tài cộng sản Tàu - Việt không khó để cho chúng ta nhận ra, nó chỉ là mối quan hệ chủ - tớ và phần thiệt luôn nằm bên phía Việt Nam. Chỉ riêng về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa theo lẽ thông thường, nếu Tàu Cộng có thiện chí thì không khó khăn trong vấn đề giải quyết vì chúng không thuôc chủ quyền của Tàu Cộng và việc Tàu cộng sử dụng vũ lực quân sự cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa, một phần Trường sa, chỉ ra cho cả thế giới biết ai thật sự là chủ hai quần đảo đó, không có gì phải bàn cãi.

Lẽ khác hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bộ mặt thế giới thay đổi nhanh về hướng văn minh, tham vọng đế quốc thực dân đã cáo chung. Hiện tại Tàu Cộng là một nước lớn đang trỗi dậy, trở thành siêu cường và là thành viên thường trực của hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự ổn định thế giới nhưng Tàu Cộng vẫn không từ bỏ tham vọng bành trướng, chúng đang là mối đe dọa đến an ninh hòa bình của thế giới, không xứng đáng với vị trí danh giá trong hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc.

Để hóa giải, vô hiệu hóa công hàm bán nước bị lộ của Phạm Văn Đồng cùng với nhiều công hàm, văn kiện, bí mật lịch sử phục vụ âm mưu bán nước với cướp nước của hai băng đảng lưu manh Tàu - việt, không có biện pháp tối ưu nào cho bằng việc xóa sổ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản và thay thế chế độ độc tài bằng chế độ dân chủ như các nước văn minh tiên tiến đang áp dụng thành công trên hành tinh địa cầu này.

Không khó để thấy, xóa sổ độc quyền đảng lãnh đạo, thay thế chế độ độc tài toàn trị bằng sinh hoạt chính trị đa đảng với chế độ dân chủ, là không chỉ hóa giải được công hàm Phạm Văn Đồng mà còn vô hiệu hóa toàn bộ những văn kiện của đảng cộng sản Việt ký kết với cộng sản Tàu và nhà nước dân chủ hậu cộng sản có đủ điều kiện để phủ nhận những công hàm, văn kiện của hai đảng rừng rú thỏa thuận hứa hẹn, ký kết không hề là đại diện, không thể hiện ý chí nguyện vọng của dân tộc Việt Nam.

Quân bài tẩy của hai đảng cộng sản Tàu - Việt đã lật ngửa, không còn cách nào khác là xóa bỏ độc quyền lãnh đạo, thiết chế chính thể dân chủ cho Việt nam, đó chính là giải pháp tối ưu để hóa giải công hàm bán nước Phạm Văn Đồng, phá vỡ âm mưu thôn tính Việt Nam và ngăn chận tham vọng thực dân đế quốc của nhà nước bá quyền Đại Hán đang manh nha trổi dậy đe doạ sự ổn định hòa bình thế giới của loài người văn minh thời đương đại.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.