Hôm nay,  

Nhớ Hà Nội Xưa Thuở Thiếu Thời

16/10/201400:00:00(Xem: 6427)

Gia đình chúng tôi đã qua định cư tại California được gần 20 năm. Tính ra thì số những năm tháng này cũng tương đương với khỏang thời gian tôi sinh sống trên quê hương đất Bắc là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Lúc này là vào giữa tháng 10 năm 2014, thì khí hậu ở đây tại bờ biển miền Tây nước Mỹ (West Coast) đã bắt đầu mát dịu, nhiệt độ ban ngày chỉ vào khỏang trên dưới 20 độ C – chứ không còn nóng bức ở mức 35 – 37 độ như hồi tháng trước vào cuối mùa hè nữa. Có thể nói Mùa Thu đang tới trên đất Mỹ đây rồi.

Buổi sáng nay, tôi nhớ lại mấy câu thơ mình đã làm hồi 30 năm trước, lúc bắt đầu bước vào tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” và đang sinh sống tại Sài gòn. Xin được ghi lại đày đủ bài thơ đó như sau:

Mùa Thu Nhớ Bạn

Mùa Thu chợt đến - lòng man mác
Nhớ Hà nội xưa - thuở thiếu thời
Bạn bè năm ấy – giờ đâu nhỉ?
Kẻ vắng người còn – dạ khó nguôi!

Sài gòn 1983.

Tôi sinh trưởng tại một làng quê trong tỉnh Nam Định cách xa Hà nội chừng trên 100 cây số thôi. Vì thế mà ngay từ trước năm 1945 trong làng đã có nhiều bà con đi làm hay định cư ở ngay tại đất Hà thành hoa lệ này. Khi về thăm viếng bà con trong làng, thì những người này thường hay kể chuyện về cuộc sống văn minh tiến bộ của người dân tại Hà nội. Và bọn trẻ con chúng tôi luôn luôn thích thú kể lại cho nhau nghe những câu chuyện ngộ nghĩnh đó về phong cảnh và con người của cái thành phố ngàn năm văn vật này.

Rồi đến năm 1952 lúc đã bước vào tuổi 18, thì tôi được gia đình gửi ra theo học tại Trường Chu Văn An ở Hà nội. Đã từng trải qua cảnh chiến tranh tàn phá kinh hòang ác liệt ở miền quê, tôi thật chóang ngợp với tình hình an ninh trật tự và sung túc thịnh vượng của thành phố là thủ phủ của miền Bắc Việt nam vào thời gian đó. Và chỉ vài ba tháng sau, là tôi đã có thể thích nghi hòa nhập vào với cuộc sống chung với các bạn đồng trang lứa với mình nơi thành phố xinh đẹp dễ thương, thanh lịch và đày dãy những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh này. Xin được ghi chi tiết hơn về cuộc sống thời trai trẻ của thế hệ chúng tôi ở Hà nội thời kỳ trước năm 1954.

I – Cái thời vui sống ở Hà nội năm xưa ấy.

Với tính vô tư năng động của tuổi trẻ, lớp bạn học chúng tôi lao mình vào chuyện học tập để bù đắp lại quãng thời gian bị mất trong những năm phải di tản chạy lọan trước đây. Mà thành phố Hà nội lúc nào cũng hào phóng cung ứng cho bọn trẻ chúng tôi những cơ hội giải trí thư giãn thỏai mái - sau những giờ phút phải tập trung suy nghĩ, học tập miệt mài căng thẳng.

Một địa điểm chúng tôi thường lui tới để gặp gỡ nhau và nhìn ngắm phố phường, đó là Hồ Hòan Kiếm ở trung tâm thành phố. Nơi di tích lịch sử với truyền thuyết con rùa mang lưỡi gươm trả về cho nhà vua Lê Lợi (The Lake of the Returned Sword), thì lúc nào cũng tấp nập xe cộ qua lại và người đi bộ vòng quanh ven hồ. Và vào những ngày mùa hè oi bức chúng tôi còn thường rủ nhau đi tắm bơi lội tại khu hồ Quảng Bá Nghi Tàm sát với Hồ Tây.

Gặp ngày trời đẹp, chúng tôi còn rủ nhau dành cả một buổi chiều để đạp xe chạy vòng quanh khu vực Hồ Tây dài đến trên 20 cây số - để hít thở không khí trong lành và thưởng thức những vẻ đẹp nơi đồng quê êm ả thanh bình tại vùng ngọai thành Hà nội. Ở vào tuổi mười tám đôi mươi, chúng tôi thật lòng say mê hồn nhiên vui sống với “cái tuổi thanh xuân thơ mộng ấy”.

Chúng tôi còn rủ nhau đi coi những phim từ Hollywood của Mỹ thật hấp dẫn với những tài tử gạo cội, màu sắc âm thanh tòan hảo. Đặc biệt phim “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió) với cặp diễn viên Clark Gable – Vivien Leigh trổ tài diễn xuất thật tuyệt vời.

1/ Mùa thu Hà nội.

Và đặc biệt là cảnh vật nơi đất kinh kỳ vào mùa thu, thì thật đày vẻ quyến rũ – quả thật nó đã gây ấn tượng thật sâu đậm trong tâm hồn nhạy cảm của lớp thanh thiếu niên chúng tôi. Đó là phương diện khách quan của khung cảnh địa lý nhân văn. Còn về mặt tâm lý chủ quan, thì chúng tôi chịu ảnh hưởng nhiều bởi thơ văn và âm nhạc thời tiền chiến - với những bài thơ bất hủ của cụ Nguyễn Khuyến như “Thu ẩm”, “Thu điếu”, Thu vịnh” v.v..., hay các bài nhạc của Đặng Thế Phong như “Giọt Mưa Thu”, “Con Thuyền Không Bến”. Và cả của những bài văn, bài thơ trong kho tàng văn chương của Pháp nữa, điển hình như bài “Chanson d'automne” (Ca khúc Mùa Thu) tuyệt vời của Paul Verlaine. Tôi thật vui thích sảng khóai mỗi khi ngâm nga những câu thơ tuyệt đẹp trong Truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, cụ thể như câu: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.

Vì thế, mà các văn nghệ sĩ ấy đã giúp cho chúng tôi biết thưởng ngọan những vẻ đẹp ngây ngất của mùa thu một cách cực kỳ linh động viên mãn. Điều này rõ rệt đã góp phần rất quan trọng để làm tăng thêm phẩm chất trong đời sống tình cảm của thế hệ thanh niên chúng tôi (quality of life) - mặc dầu hồi đó cuộc chiến tranh đang ở vào giai đọan ác liệt ngay tại các miền quê không xa Hà nội bao nhiêu.

2/ Chuyện học hành, thi cử hồi ấy.

Tại trường Chu Văn An là một cơ sở giáo dục có danh tiếng vào bậc nhất ở miền Bắc từ lâu, thì tôi được sát cánh với nhiều bạn học thật thông minh xuất sắc – nhờ vậy mà mình cũng phải cố gắng để mà theo kịp với chúng bạn. Hồi đó, các sách giáo khoa bằng tiếng Việt vẫn còn thiếu, nên chúng tôi phải học bài trong các sách viết bằng tiếng Pháp với lối trình bày in ấn thật rõ ràng, sáng sủa đẹp mắt. Và nói chung, thì các thầy giáo đều rất tận tâm trong việc sọan bài giảng và hết lòng hướng dẫn cho chúng tôi trong việc học tập để đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi kết thúc hai năm cuối bậc Trung học.

Và chừng vài tháng trước kỳ thi văn bằng Tú Tài I vào năm 1953 cũng như Tú Tài II vào năm 1954, chúng tôi thường họp thành từng nhóm 3 - 4 người để cùng học ôn bài chung với nhau. Nhờ vậy, mà trong lớp có đến gần một nửa học sinh trường công lập đều vượt qua được cửa ải kỳ thi Tú Tài I - mà hồi đó được coi là rất gay go hóc búa. Trong khi đó, thì số thí sinh từ các lớp tư thục lại đậu rất ít, có lớp không quá 10% số học sinh thi đậu. Vì số học sinh thi đậu không nhiều, nên danh sách các học sinh trúng tuyển đều được công bố trên các tờ báo ở Hà nội nữa, để bà con tiện bề theo dõi.

II – Bạn bè năm ấy – giờ đây ai còn, ai mất?

Có thể nói trong mấy năm sinh sống và học hành tại Hà nội hồi đó, thì tôi có duyên quen biết gắn bó thân thiết được với cả trăm bạn đồng môn, bạn cùng lứa tuổi với mình. Chúng tôi sống gần gũi nhau, học tập sát cánh với nhau - và cùng có chung những mộng đẹp về một tương lai tươi sáng cho bản thân mỗi người, cũng như cho đất nước và dân tộc Việt nam thân yêu của mình.

Thế nhưng do Hiệp định Geneva quy định việc chia cắt phân đôi đất nước, mà anh em chúng tôi lại phải rời xa nhau, kẻ thì di cư vào miền Nam, người thì theo với gia đình ở lại miền Bắc. Cho đến năm 2014 này, thì chúng tôi đã chia tay sống xa cách nhau đúng 60 năm rồi. Xin ghi lại danh tánh các bạn đã ra đi và các bạn mà tôi đã có dịp gặp lại trong thời gian gần đây.

1/ Những người bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Ít nhất phải có đến cả chục bạn đã ra đi từ giã cõi đời, mỗi người trong một hòan cảnh khác nhau. Xin liệt kê như sau.

*Trong số các bạn ở lại miền Bắc sau năm 1954, thì gần đây tôi biết rõ các bạn này đã từ giã cõi đời : Các anh Phạm Xuân Nhàn, Đặng Mộng Lân, Đặng Công Tọai.

*Số bạn di cư vào miền Nam và đã mất ở đây : Các anh Đỗ Vinh, Nguyễn Bá Khánh, Nguyễn Hồ Quỳ, Nguyễn Văn Quí.

*Số bạn mất ở California : Các anh Vũ Ngô Luyện, Nguyễn Ngọc Đĩnh, Nguyễn Ngọc Phan, Nguyễn Tri Phương, Đoàn Hữu Khánh.‎

2 / Những người bạn vẫn còn liên lạc được gần đây.

A - Khá nhiều bạn hiện định cư trên đất Mỹ, cụ thể như :

*Tại California : Các anh Trịnh Đình Cương, Trần Quang Hải, Đỗ Phan Ngọc, Nguyễn Trọng Hiền, Vũ Ngọc Óanh, Nguyễn Ngọc Thụy, Ngô Văn Quang, Trần Văn Điền, Lưu Trung Khảo,

Tại Texas: Các anh Vũ Tiến Thông, Đặng Văn Đức, Vũ Hữu Bao, Đỗ Huy Hòang.

Tại Washington DC : Các anh Hòang Song Liêm, Ngô Đình Thuấn, Bùi Hữu Thư.

Tại New Jersey: Anh Chu Văn Hồ.

Tại Florida; Anh Vũ Ngọc Đại

B - Tại Paris Pháp quốc, thì tôi đã gặp lại các bạn : Đỗ Đăng Di, Võ Thế Hào, Bạch Ly Từ, Vũ Dương Tuyền, Phạm Xuân Yêm.

C – Tại Montréal Canada, thì có các bạn : Trần Văn Kim, Đinh Bảo Lĩnh, Bùi Thiệu Tường.

D – Tại Việt Nam, thì ở Hà nội có các bạn : Đỗ Xuân Lôi, Ngô Văn Trọng, Nguyễn Phúc Giác Hải.

*Ở Sài gòn, thì có Phạm Hòai Đức, Lê Đức Cửu và đặc biệt có ba anh là Linh mục Công giáo : Hòang Sĩ Quí, Nguyễn Đức Thiệp, Đoàn Phú Xuân.

III – Để tóm lược lại.

Trên 60 năm đã qua, bao nhiêu chuyện đổi thay với những hệ lụy buồn vui đã xảy ra trên đất nước ta. Mà khủng khiếp nhất là những đau thương tang tóc chồng chất gây ra bởi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn – khiến làm thiệt mạng đến cả mấy triệu con người - mà tất cả đều là bà con ruột thịt thân yêu của hết thảy chúng ta. Rồi tiếp theo đó lại là một chế độ độc tài đảng trị hủ lậu và khắc nghiệt nhất trong lịch sử trên 4,000 năm của đất nước ta.

Mặc dầu vậy, cái tình cảm thân thương gắn bó giữa các bạn học năm xưa tại Hà nội lúc chúng tôi mới ở vào tuổi mười tám đôi mươi, thì không bao giờ lại có thể bị suy xuyển phai lạt đi được. Vào năm 2014 lúc này, chúng tôi đều đã bước qua tuổi 80 cả rồi và cũng đều đủ từng trải để mà biết an phận vui sống cho đến hết những ngày cuối đời của mình.

*Bài viết ngắn ngủi này nhằm gợi lại chút ít kỷ niệm của thế hệ bọn trai trẻ chúng tôi đã có duyên gặp gỡ, sinh sống và học tập chung với nhau nơi thành phố lịch sử thân yêu hồi những năm đầu của thập niên 1950.

Để kết thúc, ngòai bài thơ “Mùa Thu Nhớ Bạn” đã ghi ở phía trên, tôi xin được gửi thêm đến tất cả các bạn hai câu thơ sau đây nữa :

“Cái tuổi thanh xuân thơ mộng ấy
Suốt đời hồ dễ mấy ai quên?”

Và cũng xin được gửi lời thăm hỏi thân ái đến với tất cả các bạn.

Xin được bày tỏ nỗi niềm thương tiếc đối với tất cả bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Xin cầu chúc các bạn cùng gia quyến luôn được mọi sự An Lành./

Thành phố Costa Mesa, California Tháng Mười 2014

Đoàn Thanh Liêm

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.