Hôm nay,  

Dị Ứng

25/10/201400:00:00(Xem: 8421)
Mùa hè nơi xứ hoa tulp có nhiều hoa thơm cỏ lạ, có nhiều thời gian, lại có Euro rủng rỉnh ở trong bóp, do tổ chức xã hội của xứ này tính toán rất chi ly và khéo. Ở Hòa Lan dù trong tuổi đi làm hay đã về hưu thì cứ đến mỗi đầu mùa hè vào tháng 06 là có một số tiền vào số băng của mình, gọi là tiền đi nghỉ hè. Do vậy, những người ở độ tuổi thành niên là có số tiền ấy để đi du ngoạn mùa hè, số tiền khoảng 5, 7 trăm euro. Lẽ dĩ nhiên, không đi đâu thì số tiền đó dư ra, nhiều năm dư nhiều, có dư luận phải trả lại (tin này chưa kiểm chứng). Chính vì có tiền nên phải đi du lịch, nhiều thì đi xa, ít thì đi gần. Vãn cảnh vài nước Âu Châu bằng xe du lịch có sẵn là điều dễ dàng với người dân ở Hòa Lan.

Chính vì có đi mới biết thêm phong cảnh của những nơi, những nước, những gia đình cùng chung cảnh ngộ tỵ nạn ở các nước lân cận, mà lúc đầu mới đến, hay đến tham quan ở các thủ đô, có những di tích lịch sử liên quan đến Việt Nam như Paris Pháp. Geneve Thụy Sĩ. Những nơi chỗ có diễn ra những cuộc họp lịch sử chia đôi đất nước Việt ra làm hai từ vĩ tuyến 17, ngày 20-07-1954. Hoặc nước Pháp mà Việt Nam bị làm thuộc địa cả trăm năm, nên nền văn hóa Pháp ảnh hưởng sâu đậm đến dân tộc Việt đã nhiều đời trước khi Việt Minh lên cầm quyền.

Ở lâu, ổn định mới nhàn du đến các quốc gia lân lận, vào tận các gia đình đồng hương Việt Nam cùng cảnh ngộ vượt biển, vượt biên năm nào tránh nạn cộng sản, vì cộng sản cực kỳ dã mãn đã cùm kẹp dân tộc Việt Nam từ những năm 1945 thế kỷ trước đến nay (hồi còn bị Pháp đô hộ). Và sau này có tiếng là độc lập từ năm 1954, một nửa nước Việt là miền Bắc do Hồ Chí Minh và đảng CS lãnh đạo, miền Nam theo Tự do dân chủ do Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Nhưng vào ngày 30-04-1975 thì miền Bắc lại đem quân tràn vào xâm chiếm và cai trị cả miền Nam, nên mới có sự kiện như hôm nay. Việt Nam cả hai miền đều tứ tán vượt biên vượt biển xa lánh bọn Cộng Sản.

Hồi mới ra nước ngoài tỵ nạn không ai nói đến bệnh dị ứng vì ăn nhiều thịt, nhiều mỡ, ăn nhiều đồ chiên, hoặc dị ứng vì phấn các loại hoa. Một phần vì lúc đó Việt Cộng còn thù ghét người vượt biên, đến lúc Việt Cộng kiệt quệ về kinh tế quá, cả nước đói muốn sắp chết, phải mở cửa để có tiền vào, mở cửa để người tỵ nạn mau quên về cho có ngoại tệ. Nhờ có mùi đô la, Việt Nam mới chỗi dậy. Từ đó, từ trong nước đến ngoài nước dân Việt Nam dùng từ dị ứng hơi nhiều, và ngày nay thì từ đó dùng thường xuyên.

Tôi bị dị ứng trong kỳ đi nghỉ hè không phải vì phấn các loại hoa, cũng không vì mập quá do ăn nhiều đồ chiên lắm dầu mỡ, cũng không vì lạnh quá vào mùa đông, vì nhà có lò sửa rấp ấm vào mùa lạnh. Mà dị ứng khi bước vào phòng khách một gia đình tỵ nạn Việt Nam có hình thủy tổ cộng sản Việt Nam là hình Hồ Chí Minh, đặt ngang hông cửa sổ phía trước, không hoa, không đèn và cũng không trang trọng như những hình thấy ở trong tin tức hay trong internet; cái hình ảnh 31 năm qua tôi không bị nhìn thấy khi bước vào hội trường hay các phòng để hội họp ở xứ người. Lâu lâu có thấy trên màn ảnh của internet vào các dịp lễ lớn ở Việt Nam, hay khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam tiếp các yếu nhân của nước ngoài đến Việt Nam. Theo thủ tục ngoại giao khi các lãnh tụ của các nước tư bản đến Việt Nam để thảo luận với các lãnh tụ của Cộng Sản thì bao giờ cũng thấy tượng Hồ Chí Minh đặt trang trọng ở giữa phòng, có hoa, đèn rất trang nghiêm.

Chuyện vãn một hồi với gia chủ mới hay, ông bà này thủa đầu đến đây cũng tỵ nạn bằng thuyền, cũng sống chết trên biển, cũng thất thểu long đong, cũng bị ở trong một trại cấm đến mấy năm mới được đi định cư ở xứ người qua diện nhân đạo. Người ra đi tỵ nạn cộng sản sau 30-04-1975, không phân biết Bắc, Nam, Trung, ra đi bằng đường biển hay đường bộ, miễn là gặp nhau ở chân trời khác, có tự do, có dân chủ và có nhân quyền là mừng rồi. Tại bởi vì họ cùng nói tiếng nói với tôi, vì cùng sinh ra trong một đất nước, cũng gần thời gian, cùng màu da, cùng ra đi vì trốn cộng. Có điều chắc tôi thù ghét thủy tổ cộng sản Việt Nam nhiều, vì nhờ ở nước ngoài, có thời gian và phương tiện lại hoàn toàn tự do tìm hiểu, nên đọc nhiều, biết nhiều về Hồ Chí Minh. Nếu cứ ở trong nước thì sự hiểi biết của tôi về Hồ Chí Minh chắc cũng không hơn người ở trong nước hiện nay là bao nhiêu, dù đã chạy cộng sản đến 2 lần. Thủy tổ cộng sản là Hồ Chí Minh, băng đảng của ông là Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh Võ Nguyên Giáp... và các lớp đàn em về sau cho đến bây giờ. Phần đông người ở trong nước, anh chị em của tôi; người tỵ nạn ở nước ngoài, cũng không biết nhiều về Hồ Chí Minh và đảng của hắn. Họ chỉ biết qua tuyên truyền về con người của Hồ Chí Minh do đảng nắn ra; mà tuyên truyền với người cộng sản thì hết nói, nói dối như vẹm (cộng sản), nói dối riết thành thật, nên cả nước tôi hiện nay, người ta chỉ tin vào điều giả dối, vì đảng cộng sản đã đào tạo nên những con người như vậy.

Đúng là “vô tri bất mộ” không biết thì làm sao mà yêu mến được, không biết thì làm sao ghét cay ghét đắng như tôi với Hồ chí Minh và đảng cộng sản được. Không biết thì làm sao mà bị dị ứng khi thấy hình tướng của hắn. Hắn là tác giả đã cõng rắn cộng sản về cắn dân tộc Viện của chúng ta, đã đày đọa cả dân tộc Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ 20. Vì bất mãn không được ăn học tử tế do người cha làm quan cho Pháp đánh chết một tù nhân trong lúc say rượu, bị mất chức, phải đổi nghề làm thấy thuốc nay đây mai đó kiếm cơm độ nhật cho gia đình. Hồ Chí Minh phải đi làm thuê làm mướn, xin vào học trường thuộc địa để ra làm quan cho Pháp cũng không được chấp nhận cho học, mới chạy theo lý tưởng mới cộng sản, rồi đem lý thuyết này về tròng lên đầu dân tộc Việt, với danh nghĩa chống thực dân. Nhưng thực tế là lợi dụng thực dân để tàn sát những người yêu nước khác, đưa đất nước đến điêu đứng, từ điêu đứng này đến điêu đứng khác từ đấu thế kỷ 20 cho đến giờ, dân tộc Việt không ngóc đầu lên được. Tên đầu xỏ này cùng với băng nhóm cộng tác của y đã biến đất nước Việt thành bãi chiến trường. Đảo lộn luân thường đạo lý, bằng những chính sách quái gở long trời nở đất như: cải cách ruộng đất hồi năm 1957 ở miền Bắc, giết oan ức hàng trăm ngàn người, giết và đấu tố cả những người đã có công nuôi dưỡng Hồ Chí Minh và và bè lũ của chúng như bà Nguyễn Thị Năm, người đã đóng góp nhiều vàng bạc, thóc gạo nuôi lớp cộng sản thủa ban đầu. Tớ đứng lên tố chủ, trò đứng lên tố thầy, đưa lũ vô danh tiểu tốt thất học lên làm chánh án tòa án cách mạng, xỉ nhục những người thủa trước làm ơn, nuôi nấng mình. Thanh trừng lớp trí thức qua Nhân Văn Giai Phẩm, dụ khị và bắt giam những người có công, có lòng. Qua những bài học lịch sử đau thương đó, 60 năm sau Cộng Sản làm lại cuộc triển lãm về cuộc cải cách ruộng đất, đã bị công chúng Việt Nam tẩy chay vào tháng 9-2014 vừa qua, vì thiếu những hình ảnh thực, toàn giả tạo, giả dối.


Hồ Chí Minh còn được tô vẽ là yêu nước thương nòi, không vợ không con tự xưng mình là bác của cả dân tộc Việt khi còn rất trẻ. Nhưng dân Việt có biết đâu, một con người xảo trá, tự tâng bấc, viết tiểu xử về mình qua bút hiệu Trần Dân Tiên. Lắm con nhiều vợ, đi đến đâu, ở nước nào là có vợ ở nước đó, nhưng theo chính sách, đường lối của cộng sản chỉ là nữ hộ lý thôi. Dã man hơn, khi bị lộ tẩy thì giàn cảnh giết chết như trường hợp chị em cô Xuân người Nùng khi đã về ở thủ đô Hà nội.

Càng biết về cộng sản Việt Nam, càng thù hằn và dị ứng khi thấy hình Hồ Chí Minh bất cứ ở nơi đâu, dù ở trong nhà một kẻ không biết, hay một kẻ mới được sinh ra sau năm 1975.

Mỗi lần thấy, nhớ về cuộc đấu tố ở miền Bắc hồi năm 1957. Mỗi lần thấy cái đảng khốn nạn này chuyển những người trẻ miền Bắc vào Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh, từ việc tuyển quân ở xã ấp miền Bắc, đến đoạn đường Đường Trường Sơn, họ bị chết vì kham khổ cực nhọc trên đường đi, bị máy bay B-52 bỏ bom mà lòng quặn đau bị dị ứng. Và còn dị ứng hơn nữa khi những thế hệ còn sống hiện nay, những thế hệ là hậu quả của những chính sách tàn độc đó, không chịu đọc, học, để biết những kẻ đã đầy đọa mình, dân tộc mình vào chỗ chết. Và chính thân phận mình phải đi lưu vong tỵ nạn ở nước người, sống cô đơn đời tỵ nạn. Chưa kể vì ngu dốt họ đã chắt chịu tiết kiệm để hàng năm mua vé về thăm cái đảng khốn nạn ấy, nó đang cướp đất của người dân nghèo khó, bắt và đánh chết người trong các đồn công an, ngăn cấm dân chúng biểu tình chống đối việc dâng đất dâng biển dâng hải đảo cho quan thấy đàn anh Trung Cộng, mà không đi du lịch ở đâu khác để mở mang thêm sự hiểu biết.

Dị ứng vì sự mau quên của người tỵ nạn cộng sản, vì y mà chính bản thân mình bị tán gia bại sản, trốn chui trốn lủi để ra đi, ra đi được rồi chưa bao năm sau đã quên mất cảnh khốn đốn thủa nào sau 30-04-1975. Đói khổ, cơm phải độn với khoai sắn, bo bo, những thứ mà trước ngày đó chỉ có thú vận như heo mới ăn; những ngày tháng xếp hàng rồng rắn để mua thịt, mua đướng, mua vải, mau quên những câu ca dao châm biếm hôm nào:

“Một năm hai thước vải thô,
nếu đem may áo cụ hồ ló ra,
may áo thì hở lá đa
chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ,
vội đem cất ảnh bác hồ,
sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm”.

Hoặc nghe câu thơ của dân gian Hà Nội mỗi khi nhìn tượng Lê-nin ở vườn hoa của thành phố:

“Lê-nin quê ở nước Nga,
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này?
Ông vênh mặt ông chỉ tay:
Tư do hạnh phúc lũ mày còn xa,
Kìa xem gương của nước Nga.
Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì”.

Mỗi khi nhìn thấy hình dạng “Bác” thì cuốn phim trong đầu tôi lại quay chậm lại từ ngày cướp chính quyền của “Bác”. Đến Hiệt Định Paris 20-07-1954, cuộc ra đi tìm tự do của hàng triệu người từ miền Bắc, bỏ hết tài sản tìm đường vào Nam tìm tự do. Đến cuộc đấu tố cải cách ruộng đất ở miền Bắc hồi năm 1957. Đến những đoàn thanh niên nam nữ sinh bắc tử nam rồng rắn trên đường mòn đường Trường Sơn, bị chết dần chết mòn vì sốt rét, thiếu phương tiện, thiếu thuốc men và còn bị chết vì B-52 rải bom. Đến những vụ Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972, đến đại lộ kinh hoàng, đến những ngày rút quân bỏ Quân khu I và Quân Khu II, rồi cuối cùng đến ngày 30-04-1975 tại Sài Gòn. Sau đó cả miền Nam tan hoang và rách nát, những người được họ kêu gọi đi học tập 10 ngày mà không trở về, nạn đổi tiền, lùa dân đi kinh tế mới, những ngày tháng ăn độn bo bo, làn sóng vượt biên vượt biển, những xác chết bồng bềnh trôi dạt từ biển khơi vào bờ của những nạn nhân đi vượt biên, những nhà tù, những cái gọi là trại cải tạo. Thật vô cùng đau khổ cho con người khi chủ nghĩa Cộng Sản có mặt, khi nào có “Bác” có đảng của hồ tặc xuất hiện là dân tộc Việt còn đau khổ. Và cho đến hôm nay đất nước ta do đảng của Hồ Tạc lãnh đạo tiến tới đâu, thì để người dân ở trong nước và những người chạy trốn cộng sản ở hải ngoại trả lời thay cho người viết.

Trước đây ở thủ đô tỵ nạn cũng đã có một người, ăn cơm Quốc Gia thờ ma Hồ Chủ Tịch, đem hình ông Hồ treo trong cửa tiệm, đã bị đồng hương Việt Nam ở thủ đô này chống đối ra mặt, biểu tình phản đối liên tục cho đến khi phải bỏ tấm hình xuống. Vì họ có suy nghĩ, ở ngay thủ đô tỵ nạn này mà còn có kẻ chạy bám theo người vượt biển, vì sợ hãi cộng sản phải chạy trốn. Những thứ người này thật kỳ dị, nếu yêu bác và đảng thì cứ sống ở trong nước với cộng sản, trà trộn chạy ra nước ngoài làm gì. No cơm ấm cật, chỉ lo làm giầu mà không tìm hiểu tận nguồn cơn, lý do mình phải chạy trốn thì nên đề nghị với chính quyền các nước đã nhận người tỵ nạn thủa đầu, cứu xét lại, trả họ trở về Việt Nam sống với Bác và Đảng.

Chính vì bị dị ứng như vậy nên kẻ viết hạ quyết tâm, nhờ những người nhớ bác, nhớ đảng về thăm quê hương, mua cho một bức tượng bác đem qua nước ngoài, để lập am, lập miếu ở vườn sau nhà, cũng phải tìm nơi kín đáo để hàng xóm khó thấy, mỗi ngày vài lần ra thăm bác cho thỏa thích thần tượng mà mỗi lần thấy hình hay nhắc tới bác là bị Dị Ứng./-

Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.