Hôm nay,  

Về Phim Đất khổ

08/04/201500:00:00(Xem: 11416)

Trịnh Công Sơn có phải là một thanh niên trốn quân dịch? Theo bạn bè của ông kể lại thì điều này là sự thật. Ngay cả em gái của ông, cô Trịnh Vĩnh Trinh, cũng xác nhận chuyện đó trong một cuộc phỏng vấn với tác giả bài này.

Nhạc sĩ họ Trịnh đã từ chối tham gia vào việc cầm súng bắn giết anh em. Đứng bên lề cuộc chiến, chứng kiến mất mát, đổ nát, đau thương của chiến tranh đã đem đến cho ông chất liệu để viết lên những ca khúc với âm điệu buồn về thân phận quê hương, thân phận con người, những bài ca đã làm rung động con tim nhân loại.

Một Trịnh Công Sơn trốn lính, một Trịnh Công Sơn có mặt ở Huế chứng kiến tang thương khi Tổng tấn công Tết Mậu Thân xảy ra, cùng với một Trịnh Công Sơn mong ước dựng xây quê hương trong thanh bình. Tất cả đã được lồng vào phim “Đất khổ”.

Phim này sẽ được chiếu tại tại Đại hội Điện ảnh Việt Nam kỳ 8 (Viet Film Fest) tại hải ngoại, do Hội Văn học Nghệ thuật Việt-Mỹ (VAALA) tổ chức vào tuần tới tại Little Saigon ở miền Nam California.

“Đất khổ” không phải là một phim mới sản xuất mà đã được quay tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 do cố đạo diễn Hà Thúc Cần thực hiện. Cô Trịnh Vĩnh Trinh cho biết đạo diễn là một người rất thân với gia đình.

blank
Cảnh trong phim với Trịnh Công Sơn ôm đàn hát “Tôi sẽ đi thăm” bên cạnh mẹ và chị Thuý. (ảnh Bùi Văn Phú)

Phim dựa trên cốt truyện từ hai tác phẩm “Giải khăn sô cho Huế” và “Đêm nghe tiếng đại bác” của nhà văn Nhã Ca, là người cũng viết lời thoại cho phim cùng với Hà Thúc Như Hỷ, Trần Lê Nguyễn và Phạm Viết Lịch.

Trịnh Công Sơn là diễn viên chính, trong vai nhạc sĩ Quân và cũng là một thanh niên trốn quân dịch. Quân có những người anh là sĩ quan và cảnh sát của Việt Nam Cộng hòa, có chị là Thuý với người yêu là lãnh tụ sinh viên tranh đấu. Có em là Hạnh lúc nào cũng hăng say tham gia xuống đường chống chính phủ. Hình ảnh của Diễm cũng thấp thoáng trong phim.

Những nhân vật, chuyện tình đan xen và sự nối kết quan điểm trong phim có nhiều nét hiện thực như trong gia đình của Trịnh Công Sơn.

Bối cảnh của phim mang những nét thời sự nổi bật của cuộc chiến Việt Nam, với phong trào tranh đấu của sinh viên Huế, với trận chiến Mùa hè Đỏ lửa 1972 và cuộc Tổng Tấn công của bộ đội cộng sản Bắc Việt vào Huế dịp Tết Mậu Thân 1968.

Trong phim còn có nhân vật Tim, một lính Mỹ đào ngũ, quen với Quân ở khu nhà trọ trong Sài Gòn, thường chia xẻ với nhau buồn vui, mất mát người thân qua những ly rượu. Tim lấy vợ Việt, biết nói tiếng Việt nên bị nghi ngờ là CIA. Một lần Tim nhận tiền của bà con trong xóm, hứa đi mua đồ ở PX, cửa hàng dành cho lính Mỹ, mà không làm nên bị vợ đuổi, bị bà con mắng chửi.

Quân giúp Tim, rủ anh về Huế đón Tết với gia đình. Đúng vào dịp Tết Mậu Thân. Bộ đội cộng sản tấn công chiếm thành phố. Tim bị lính Mỹ bắt lại còn gia đình Quân với mẹ và em phải chạy lên nhà thờ lánh nạn cùng với nhiều nạn nhân chiến tranh khác.

Rồi gia đình lại tiếp tục chạy loạn. Thuý bị trúng đạn chết, xác chôn vội bên bờ đất. Mẹ buồn rầu: “Không đi đâu cả. Có chết cũng về nhà mà chết”.

Lồng trong phim là một số ca khúc do Quân sáng tác, có những lời tình ca: “Làm sao em biết đời sống buồn tênh. Đôi khi ta lắng nghe ta…”, “Từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ, nhìn lại mình đời đã rong rêu…”


Có những ca từ như lời ai điếu của thiếu phụ để tang người tình: “Em đi trong chiều có gió bay theo, thổi bùng khăn tang trắng giữa khung chiều…”.

Có ca từ, theo lời Quân là “ước mơ thanh bình và là thân phận khổ đau của nước Việt Nam chúng ta.”

Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm.
Tôi sẽ đi thăm một nghĩa địa buồn,
Đi thăm mộ bia đều như nấm.
Khi đất nước tôi không còn chiến tranh
Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Phim “Đất khổ” đưa lên những quan điểm trái nghịch của thanh niên thời bấy giờ, có người cầm súng chiến đấu, có người tham gia phong trào đấu tranh, có những nhận định, phát biểu: “Phận nước mình mà ai ai đâu quyết định không à…”.

blank
Bìa DVD phim “Đất khổ”. (ảnh Bùi Văn Phú)

Khi giới trẻ tụ họp sinh hoạt cũng có lựa chọn khác nhau, anh muốn hát quyết thắng trong khi chị lại muốn có hòa bình để xây dựng quê hương:

Ta cùng lên đường đi xây lại tình thương
Lòng mẹ ta xưa kia bao la như Thái Bình Dương
Những đứa con là sông mừng hôm nay xoá hết căm hờn
Mượn phù sa đắp trên điêu tàn lòng nhân ái lên nụ hồng…

Với nội dung về một nhân vật chính là một nhạc sĩ được cho là phản chiến và trốn lính, phim “Đất khổ” có được chiếu ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 hay không thì không rõ lắm.

Trong buổi ra mắt bản dịch tiếng Anh tác phẩm “Giải khăn sô cho Huế” của Nhã Ca tại Đại học Berkeley, tôi nêu câu hỏi này với nhà văn, bà trả lời rằng phim mới làm xong chưa kịp chiếu.

Bà cho biết thêm, sau khi phim được phổ biến tại hải ngoại, trong nước đã cho phép chiếu. Sau vì bìa có in hình cờ đỏ sao vàng, người Việt ở Mỹ phản đối, cho nhà sản xuất biết phim không liên quan gì đến cờ đỏ sao vàng nên nhà sản xuất in lại bìa, bỏ cờ đỏ. Lúc đó trong nước lại cấm chiếu.

Theo bách khoa tự điển mở, “Đất khổ” quay từ năm 1971 đến 1973 mới hoàn thành và đã được ra mắt tại Sài Gòn năm 1974, nhưng chỉ chiếu hai xuất cho công chúng rồi thôi.

Bìa sau của DVD ghi chi tiết năm 1980 phim được chiếu tại rạp Paris Orient Theater bên Pháp và năm 1996 chiếu tại American Film Institute thuộc Trung tâm Kennedy, rồi tại Liên hoan Phim Mỹ Á cũng tại vùng Thủ đô Washington.

Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời năm 2001, trong một lần tổ chức giỗ ông tại khu tưởng niệm ở Bình Qưới, ban tổ chức đã dự định chiếu một vài đoạn trong “Đất khổ”, nhưng giờ chót phần này đã không được phép thực hiện.

“Đất khổ” phản ánh khá trung thực hoàn cảnh chính trị, xã hội của một đất nước có tên Việt Nam Cộng hoà trong giai đoạn mười năm sau cùng, từ 1965 đến 1975, trước khi bị cộng sản xóa tên trên bản đồ thế giới. Một đất nước thường xuyên phải đối đầu với chiến tranh và người dân ai cũng mơ ước hoà bình đến với quê hương để cùng nhau góp tay xây dựng lại nhà cửa, xóm làng.

Tựa phim: Đất khổ (Land of Sorrow).

Dài 142 phút. Nói tiếng Việt, phụ đề tiếng Anh.

Bản quyền: 1971 George Washnis Enterprises

Đạo diễn: Hà Thúc Cần.

Kịch bản: Hà Thúc Cần và Nguyễn Bá Hùng

Nhà sản xuất: Nguyễn Bá Hùng.

Diễn viên: Trịnh Công Sơn, Bích Hợp, Xuân Hà, Vân Quỳnh, Minh Trường Sơn, Lưu Nguyễn Đạt, Jerry Liles

© 2015 Buivanphu.wordpress.com

Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.