Hôm nay,  

Baltimore Hay Baltiless?

02/05/201500:00:00(Xem: 7444)
Sự thật đen trắng tại Hoa Kỳ…

Tuần qua, không chỉ có người Việt chúng ta mà cả Thủ tướng Nhật Shinzo Abe cũng ngậm ngùi rồi ngẩn ngơ về nước Mỹ.

Qua chuyến thăm viếng kéo dài một tuần, Thủ tướng Abe vận động việc củng cố quan hệ Mỹ-Nhật về kinh tế lẫn an ninh, lần lượt gặp Ngoại trưởng rồi Tổng thống Mỹ và là Thủ tướng đầu tiên của Nhật được mời đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ trong một phiên khoáng đại. Sau ba ngày ở Thủ đô Hoa Kỳ, ông Abe chỉ muốn bay qua California để sớm thấy một nước Mỹ khác, tại Silicon Valley, San Francisco và Los Angeles, những nơi mà ông muốn học hỏi kinh nghiệm sáng tạo để cải thiện nước Nhật. Tại thủ đô Mỹ, ông chỉ thấy một trường bát nháo.

Lý do là từ khi rời Boston đến thủ đô Washington, ông bị thời sự đẩy qua một góc vì vụ khủng hoảng tại Baltimore. Trong buổi tiếp xúc với báo chí kéo dài một tiếng đồng hồ bên Tổng thống Barack Obama trước Vườn Hồng của tòa Bạch Ốc, vị thượng khách của nước Mỹ đứng làm cảnh mất 15 phút - lọt khỏi màn ảnh truyền hình – khi ông Obama trả lời báo chí về vụ Baltimore.

Đầu đuôi là hôm 19, một thanh niên da đen Freddie Gray của thành phố Baltimore đã chết vì cột sống bị hư hại trong một xe câu lưu của cảnh sát. Sau quá nhiều vụ người da đen tử vong vì cảnh sát, việc Freddie Gray bị chết trong hoàn cảnh mờ ám, và đang được điều tra, đã gây căm phẫn trong cộng đồng da đen, nhiều vụ biểu tình phản đối đã bùng nổ trên nước Mỹ.

Thế rồi, trong ngày tang lễ của Freddie, đám biểu tình biến thành bạo động, đốt nhà, hôi của, tấn công cảnh sát.

Baltimore của tiểu bang Maryland tiếp giáp với thủ đô Hoa Kỳ đã trở thành vùng giao tranh khi cảnh sát bị tràn ngập. Thị trưởng Stephanie Rawlings-Blake, một phụ nữ da đen sáng giá trong đảng Dân Chủ, cùng Ủy viên Cảnh sát Anthony Batts, một người da đen khác, phải cố bảo vệ quyền tự do phát biểu lẫn sự ổn định của thành phố mà 64% là người da đen. Nhưng bà Thị trưởng thất bại hoàn toàn trước cảnh bạo động tràn lan, Thống đốc Larry Hogan, một nhân vật Cộng Hòa, phải ban bố tình trạng khẩn cấp và đưa Vệ binh Quốc gia vào vãn hồi trật tự.

Trong khi đó, phong trào phản đối cảnh sát vẫn lan rộng trên toàn quốc.

Nạn kỳ thị hay ngược đãi người da đen đang thành đề tài tranh luận, khi lần đầu tiên Hoa Kỳ có một Tổng thống da đen là Barack Obama, thuộc đảng Dân Chủ. Từ cánh tả của đảng này đã có nhiều tiếng nói về tình trạng bất công ấy đối với người da đen. Có lẽ, đảng Dân Chủ nên tự kiểm điểm về những gì đã xảy ra từ nửa thế kỷ - không, từ lâu hơn nữa - với vai trò bất ngờ của đảng.

Vì các chính khách ít dám nhìn vào đó, bài này sẽ giúp độc giả chúng ta thấy ra một phần sự thật về nước Mỹ, một nghịch lý bất ngờ.

* * *

Sau thời lập quốc, từ gần 190 năm nay, người da đen tại Mỹ đã là nạn nhân của đảng Dân Chủ.

Lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, một nhân vật Dân Chủ đã đắc cử Tổng thống vào năm 1828. Đó là người hùng Andrew Jackson. Từ khi ra đời vào thời điểm ấy, đảng Dân Chủ là đảng bảo vệ chế độ nô lệ, với nhiều đảng viên có nông trang trồng bông tại miền Nam và cần nhân lực lao động của dân nô lệ được đưa từ Phi Châu qua Mỹ. Trong các cuộc tranh cử từ 1840 đến trước Nội chiến, đảng Dân Chủ đưa chủ trương đó vào chương trình hành động.

Năm 1860, đảng Cộng Hoà với cả hai ứng viên tranh cử tổng thống là Abraham Lincoln và William Seward thì vận động bãi bỏ chế độ nô lệ. Trở thành Tổng thống, ông Lincoln tiến hành việc đó, với cái giá là cuộc Nội chiến (1861-1865) và cả mạng sống của mình.

Khi ấy, đảng Dân Chủ bị rạn trên đường tuyến Nam Bắc. Phe miền Nam đòi bảo vệ quyền sở hữu nô lễ bằng một đạo luật liên bang, miền Bắc thì cho là chỉ nên bảo vệ quyền đó ở cấp tiểu bang, so với miền Nam thì tiến bộ hơn được vài phân.

Sau Nội chiến, chế độ nô lệ được bãi bỏ nhưng người da đen chưa được hoàn toàn giải phóng. Đảng Dân Chủ phản công bằng cách khai triển các đạo luật phân biệt màu da, gọi là Jim Crow laws, và bằng tổ chức Ku Klux Klan (KKK).

Luật Jim Crow được tăng cường từ năm 1877 sau khi Bắc quân rút khỏi miền Nam và người Mỹ da trắng nơi đó khó chịu vì bọn nô lệ cũ còn dám cướp việc làm của họ. Còn tổ chức KKK thì thực tế là lực lượng “dân quân” sử dụng võ khí để bảo vệ quyền thế của người da trắng bằng cách giết hại và thiêu sống người da đen. Khi ấy, các đạo luật bảo vệ quyền mang súng là sáng kiến Cộng Hòa nhằm khai triển Tu chính án Hai của Hiến pháp để giúp người da đen có phương tiện tự vệ!

Một chính khách Dân Chủ, thành viên của tổ chức KKK hắc ám này mới chỉ tạ thế vào năm 2010. Nghị sĩ Robert Byrd. Như nhiều chính khách Dân Chủ khác, ông ta đã từng biểu quyết chống Đạo luật Dân quyền Civil Rights Act năm 1964.

Về đạo luật CRA đó, có vài sự thật cũng phải được làm cho sáng tỏ.

Người ta cứ ngỡ rằng đấy là công trình của hai Tổng thống Dân Chủ là John Kennedy và Lyndon Johnson. Thật ra, Kennedy không có thiện cảm với phong trào tranh đấu cho dân quyền của người da đen vì ông sợ mất phiếu của miền Nam bảo thủ. Ông rất kỵ lãnh tụ Martin Luther King và cho người điều tra đời tư để vu cáo mục sư King mà không thành, vì Kennedy bị ám sát vào Tháng 11 năm 1963 tại Dallas.

Lên kế nhiệm Kennedy, Lyndon Johnson là một chính khách ưu hạng khác của đảng Dân Chủ.

Là người của miền Nam, thuộc tiểu bang Texas, Nghị sĩ Lãnh đạo khối Đa số (Dân Chủ) tại Thượng viện, Johnson từng hóa giải để phá hoại đạo luật CRA năm 1957 do Tổng thống Cộng Hòa Dwight Eisenhower đề nghị. Johnson còn thường xuyên bỏ phiếu chống lại các luật lệ bảo vệ người da đen. Vậy mà Đạo luật bị Johnson pha loãng để vô hiệu hóa còn bị Nghị sĩ John Kennedy bỏ phiếu chống!

Sau khi Kennedy bị ám sát và lên làm Tổng thống Xử lý Thường vụ, Johnson mới đổi ý và ủng hộ đạo luật Dân quyền vì sẽ phải ra tranh cử Tổng thống vào năm 1964. Nếu còn giữ tinh thần phân biệt đen trắng thì ông sẽ thất cử vì khi ấy đa số dân Mỹ đã ủng hộ chủ trương bình đẳng.

Sau đó là lịch sử. Lyndon Johnson là nhà quán quân tranh đấu cho người da đen với Đạo luật CRA 1964, và lời tuyên bố lạnh người của một chính khách đểu cáng: Tôi sẽ có bọn mọi đen ấy (niggers) bỏ phiếu Dân Chủ trong 200 năm tới! Nhiều người da đen (và cả da vàng) lại quên chuyện ấy rồi.

Họ càng không thấy rằng từ đó, chánh sách đãi ngộ da đen xuất phát từ đảng Dân Chủ và kế hoạch Đại đồng (Great Society) của Johnson mới dẫn đến tình trạng hôm nay: các gia đình da đen bị vỡ tan. Nhiều hộ gia đình thiếu người cha mà chỉ có bà mẹ độc thân, cứ thoải mái có con vì được nhà nước chu cấp.

Từ 1964 đến 2012, số trẻ em ngoại hôn, sinh ra ngoài hôn thú, tăng gấp bốn, từ 7% lên tới 41%. Trong cộng đồng da đen hiện nay, 70% trẻ em ra đời từ các bà mẹ độc thân, và chẳng là nhà xã hội học ta cũng biết rằng tuổi trẻ bất thường ấy rất dễ đưa tới sự nghèo khốn, và tội ác. Tỷ lệ có mức sống bần cùng của người đa đen là 27%, gấp ba dân da trắng, và nạn giết người cướp của liên quan đến người da đen chiếm hơn phân nửa trong xã hội Mỹ dù dân da đen chỉ có 13% dân số toàn quốc. Và nạn nhân của chuyện bạo hành chính là người da đen.

Hiện trường của tình trạng bi thương đó là các thành phố có đông dân da đen và được đảng Dân Chủ lãnh đạo. Baltimore là một thí dụ, thành phố vỡ nợ Detroit là một thí dụ khác. Nhiều lắm.

Người da đen là nạn nhân của người da đen, và trên cùng họ là nạn nhân của các chính khách Dân Chủ do họ bầu lên. Nhiều người trong đảng Dân Chủ đã thành công vượt bậc mà khỏi cần các đạo luật Jim Crow hay KKK. Nhưng người da đen không biết vậy, Thản hoặc như có người biết và nói ra thì bị đả kích là «nô lệ của bọn Cộng Hoà!»

Bao giờ nước Mỹ dám có «Đạo luật Baltiless» để trả lại quyền tự chủ cho người da đen?

Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.