Hôm nay,  

Quà Quê Nhà

23/06/201500:00:00(Xem: 20468)

Thỉnh thoảng ra phi trường đưa đón người thân quen, tôi thấy những chuyến bay về các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Philippines có nhiều khách đi mang theo hành lý là những kiện hàng vuông vuông vừa đúng kích thước của luật hàng không.

So với những chuyến bay đi châu Âu, hành khách ít khi mang theo thùng hàng mà chỉ những chiếc vali to.

Quan sát và trò chuyện với một số người Việt về quê, tôi biết trong những thùng hàng đó có phôma, có thịt bò bí-tết, có những trái mận đỏ (cherry) là những sản phẩm Mỹ được người Việt trong nước ưa thích. Đem những thứ đó về làm quà cho gia đình, cho bạn bè thân thương là điều quí nhất sau một chuyến du hành Mỹ.

Nếu không là thực phẩm, có người lại đóng vào thùng, giữa đống quần áo và bọc ni-lông có hơi là vài chai rượu ngon như Johnnie Walker Blue Label, hay những chai rượu vang đắt tiền, đặc sản từ thung lũng Napa.

blank
Bánh đậu xanh đặc sản Hải Dương và cà-vạt lụa (ảnh Bùi Văn Phú).

Ba mươi năm trước, những thùng quà gửi về Việt Nam là những thước vải, bánh xà-phòng, hộp kem đánh răng, lọ nước hoa, chai dầu xanh, hộp mỹ phẩm, kẹo bánh.

Ngày nay Việt Nam không thiếu các mặt hàng đó loại thượng hạng, được bày bán trong các siêu thị sang trọng không thua gì như ở các nước tân tiến. Nhưng hàng đem về từ Mỹ hay từ châu Âu bảo đảm được chất lượng và không sợ mua nhầm đồ dổm.

Dầu gió xanh nay cũng vẫn thường là sản phẩm được đem về làm quà. Có người còn đem cả xì-dầu Maggi sản xuất ở châu Âu, mua từ các siêu thị ở Mỹ, đem về làm quà hay cho người thân dùng.

Tâm lí không tin hàng sản xuất trong nước, hay hàng được nhập vào thị trường Việt Nam là kém chất lượng hơn hàng Mỹ thường có trong giới tiêu dùng. Cũng có thể vì tâm lí sính hàng ngoại nên hàng từ Mỹ về là thơm, là tốt, là quí hơn.

Giống như người Việt, người Philippines và người Trung Quốc khi về thăm quê hương cũng thường mang theo nhiều thùng quà, như tôi đã có nhiều dịp quan sát tại quầy gửi hành lý của Philippines Airlines và Air China tại phi cảng San Francisco.

blank
Chè xanh và cốm vòng (ảnh Bùi Văn Phú).

Trong dịp đi Cuba cũng thấy người Cuba từ Mỹ về thăm quê nhà mang theo những thùng hàng. Hành lý về Saigon, Manila hay Bắc Kinh gói trong kiện dán băng dính là đủ. Còn về Cuba, những kiện hành lý đã gói, nịt và còn được cuốn thêm nhiều lớp ni-lông vì sợ bị rạch, bị moi đồ trước khi đến nơi.

Ngày xưa các hãng máy bay cho hành khách gửi theo mỗi người hai kiện hàng, mỗi kiện 70 cân Anh, nay giảm xuống chỉ còn mỗi kiện 50 cân, nên số lượng quà mang về quê cũng giảm đi.

Gia đình chúng tôi có liên hệ với xứ Quảng. Một lần đi xe qua cánh đồng lúa thấy một bác nông dân mặc áo com-plê đang cày dưới ruộng. Hỏi ra mới hiểu được vì nghèo quá, trời mùa lạnh nên có gì mặc đó để ra đồng làm việc. Những quần áo là hàng cũ người nước ngoài gửi về, dân ở quê xin được ai cái gì mặc cái nấy.

Vì thế khi có thân nhân về thăm quê nhà, gia đình chúng tôi không quản ngại đem theo những thùng quần áo cũ để cho người nghèo khó ở quê, dù có tốn thêm một vài trăm đô gửi thêm hành lý.

Quà tặng thì có quà nhận. Bạn bè biết tôi thích sách và các sản phẩm văn nghệ nên thường tặng sách, đĩa nhạc. Sách về văn chương, lịch sử, mỹ thuật. Các chương trình ca nhạc của Diva Việt Nam, Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Đức Tuấn, Quang Dũng hát nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn.

Chè, cà-phê, bánh đậu xanh, mè xửng, kẹo mạch nha cũng là quà đặc biệt từ quê nhà. Có những loại chè từ miền thượng du Bắc Việt, uống thơm, nhưng tôi không quen nên nhiều đêm thức đến sáng. Cà-phê Trung Nguyên 3in1 khá phổ thông và có hương vị đậm đà. Pha uống liền hay muốn nhìn ngắm từng giọt chầm chậm từ phin nhỏ xuống ly sữa thì tùy lúc, tùy nơi.

Rượu bổ có rắn, tắc kè ngâm với các thứ sâm nhung. Uống vào dễ thấy lung linh đất trời.

blank
Quà quê nhà là những tác phẩm văn chương (ảnh Bùi Văn Phú).

Có bạn từ bờ Đông nước Mỹ đi công tác ở Việt Nam về và có mua cốm xanh làm quà cho gia đình tôi. Không biết nửa ký cốm tốn bao nhiêu nhưng gửi Express qua California, cước bưu điện hơn 30 đô-la vì bạn biết để lâu cốm sẽ không còn tươi, thơm ngon. Thật đáng trân qúi.

Một thứ quà Hà Nội mà tôi thích là mứt mơ cam thảo. Sau cơm chiều, uống trà thưởng thức loại mứt này thật là tuyệt vời.

Những năm gần đây, quà quê nhà còn là nhiều thức ăn đặc sản. Ốc hút sào dừa, cá thác lác xay, cá lóc nướng là những sản phẩm không bị luật Mỹ cấm mang vào. Hôm trước được người nhà chuẩn bị nấu nướng ở Saigon, rồi đóng gói đưa lên máy bay là hôm sau thức ăn đến Mỹ cho bà con thưởng thức. Thỉnh thoảng gia đình tôi đã có những bữa ăn nhậu với ốc, chả cá chiên và cá cuốn bánh tráng.

Nhiều món ăn khác từ quê nhà tôi đã có dịp thử và thấy ngon. Tôm rim, cá cơm chiên giòn, chỉ hâm nóng lại, ăn với rau luộc chấm nước mắm là một bữa ăn đậm đà hương vị quê nhà.

Một thứ đặc sản của nhiều người Việt là mắm. Tuy trong các siêu thị Á đông ở Mỹ không thiếu loại mắm nào, nhưng có người bạn, theo tôi biết mỗi chuyến đi Việt Nam mang theo thịt cùng bơ sữa, khi về lại Hoa Kỳ là cả thùng mắm các loại, cá kèo, cá sặc đủ cả.

Không biết đã có bao giờ xảy ra sự cố những lọ mắm vỡ đổ trên đường bay giữa Saigon và San Francisco chưa.

Nhà văn Linh Bảo có truyện ngắn “Hũ mắm nêm đi Hương Cảng” viết năm 1958 kể chuyện một hũ mắm được trân trọng đưa ra nước ngoài, nhưng đến nhiều nơi lại bị chê cười, hất hủi không dám gần. Nhưng chính nó lại là biểu hiệu của quê hương trong những ngày bà sống bôn ba nơi xứ người.

Ngày nay, trên những chuyến bay từ quê nhà về lại Mỹ, nếu để ý bạn sẽ thấy từ Saigon hay Hà Nội sang Taipei, Seoul trong khoang máy bay thoang thoảng có mùi nước mắm, mùi dầu xanh là hương vị quê nhà mà nhiều du khách nước ngoài nay đã nhận ra.

© 2015 Buivanphu.wordpress.com

Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.