Hôm nay,  

Nguồn Gốc Của Chế Độ Độc Tài

01/07/201500:00:00(Xem: 9615)

Giới thiệu sách: Hannah Arendt - The Origins of Totalitarianism

New York: Harcourt Brace, 1951

Vấn đề

Gần đây, sự sụp đổ của Trung Quốc được học giới phương Tây đề cập và một học thuyết domino trong thời kỳ mới vẫn chưa thành hình. Chừng nào chế độ độc tài của Việt Nam sẽ sụp đổ và với hình thức nào là một câu hỏi quen thuộc của người Việt mà chưa có câu trả lời chính xác. Dù nguy cơ của ĐCSVN thường được đặt ra, nhưng nguyên ủy cho sự tan rã chung này cũng là vấn đề cần tìm hiểu: chế độ toàn trị do đâu mà có.

Sự thành hình của nhà nước toàn trị là một khảo hướng lý thuyết đa dạng, nhưng sau khi chế độ Đức Quốc Xã đầu hàng thì “The Orgins of Totalitarianism“ (1951) của Hannad Arendt được học giới ca ngợi đây là một tác phẩm trứ danh, được liệt kê vào một trong số 100 danh phẩm của thế kỷ XX và tác giả được vinh danh là một triết gia có ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử tưởng chính trị cận đại. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu danh phẩm này.

Tác giả

Hannad Arendt (1906-1975) là người Do Thái, nhưng sinh ở Linden gần Hannover (Đức) và trưởng thành ở Kưnigsberg. Arendt học Triết học, Thần học và Hy lạp (1924-28) tại các Đại học Marburg, Heidelberg và Freiburg với các triết gia nổi danh Martin Heidegger và Karl Jaspers. Luận án Tiến sĩ của bà là "Khái niệm về tình yêu của Augustin". Vì gốc Do thái nên bà không được phép dạy học.

Khi Hitler cầm quyền bà bị giam và sau đó cùng chồng là Gnter Stern đào thoát sang Paris tháng 8 năm 1933. Tại Paris, bà làm việc cho Jungend Aliyad, một tổ chức thanh niên tỵ nạn người Do Thái, nhưng mất quyền công dân Đức và sống trong tình trạng không quốc tịch. Bà ly dị vào năm 1937 và làm việc cho tổ chức Jewish Agency tại Paris. Bà tái giá với Heinrich Blcher. Sau khi bị giam tại trại tập trung Gurs, miền nam nước Pháp, bà và toàn gia đình sang tỵ nạn taị Hoa Kỳ năm 1941. Khởi đầu bà làm việc cho tuần báo Aufbau, sau đó cho nhà xuất bản Schocken và phụ trách điều hành cho tổ chức Jewish Cultural Reconstruction Agency.

Năm 1951 bà nhập tịch Mỹ sau 14 năm sống không có quốc tịch và cho ra mắt tác phẩm The Origin of Totalitarism. Bà nổi danh và được mời thỉnh giảng tại các Đại học Princeton, Harvard, Berkeley, Chicago và New York. Từ năm 1967 bà là giáo sư chính thức tại New School for Social Research, New York. Với nhiều trước tác quan trọng bà nhận được 10 bằng Tiến sĩ danh dự của các đại học danh tiếng và nhiều giải thưởng cao qúy. Bà mất ngày 4 tháng 15 năm 1975 tại New York.

Dù hai lần kết hôn với hai nhà trí thức tên tuổi, nhưng người tinh muôn thuở của bà vẫn là Martin Heidegger. Chuyện tình và cuộc đời tranh đấu của bà được soạn thành phim và gây thu hút dư luận. Gần đây, các luận đề của bà được học giới quan tâm thảo luận và vinh danh các đóng góp này.

Tác phẩm

The Orgirins of Totalitarianism do New York Harcourt Brace xuất bản lần đầu vào năm 1951 là một tác phẩm có ba tựa đề và viết bằng hai ngôn ngữ Anh và Đức.

Ấn bản Anh ngữ tại châu Âu do Secker & Warburg, London xuất bản vào năm 1951 có tựa là The Burdens of Our Time. Với tựa đề này bà muốn nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức và triết lý, vì The Origins of Totalitarianism dễ gây ngộ nhận cho độc giả là bà nghiên cứu về mối liên hệ nhân qủa, một khảo hướng thông thường của sử gia.

Ấn bản Đức ngữ của Europische Verlagsanstlt, Frankfurt a. M. năm 1955 là Elemente und Ursprnge totaler Herrschaft do chính bà dịch và tăng bổ nội dung. Tựa đề này phản ánh nội dung mà bà kỳ vọng. Ấn bản lần thứ ba năm 1966 được xem là hoàn chỉnh, vì có số lượng tăng hơn 526 trang so với ấn bản 1951 và có lời giới thiệu trang trọng của Karl Jaspers.

Nội dung

Dù với tựa đề nào thì nội dung của tác phẩm cũng không thuần là một luận đề tư tưởng chính trị của một triết gia mà là một bản cáo trạng đầy tâm huyết của một nạn nhân của chế độ Đức Quốc Xã trước một tội ác có một không hai trong lịch sử của nhân loại. Bà xem đây là trách nhiệm cao cả của mình vì những khái niệm về hình luật như tội giết người, mức độ quy trách và hình phạt xét xử không thể nào diễn đạt được bất công của cả một chế độ phi nhân.

Vì là một luận cương đấu tranh nên bà không đề ra một khái niệm cơ bản về nhà nước toàn trị để làm khởi điểm cho nội dung. Bà cho là các phương pháp của các sử gia thời hậu chiến không thể lý giải đầy đủ về biến cố trong đại này, khi chỉ đề ra mối liên hệ nhân quả trong từng biến cố riêng biệt, mà chế độ toàn trị là nguyên nhân chính cho mọi thảm hoạ. Bà nêu lên những hình thức mới của một nhà nước toàn trị mà độc giả ngày nay phải hiểu đó là một khái niệm chưa rõ nét trong bối cảnh chính trị của những năm đầu của thập niên 1950 thời Chiến tranh Lạnh.

Trong ấn bản năm 1966 bà nhấn mạnh không phải bất cứ chế độ độc đảng nào cũng là chế độ toàn trị mà chế độ phát xít Ý và chính quyền của các quốc gia Đông Âu và Liên xô trước khi Stalin chết là một thí dụ. Đặc điểm của chế độ toàn trị chỉ phát sinh trong thởi kỳ Đức Quốc Xã với chủ trương tiêu diệt người Do thái và trong chế độ Stalin, chủ trương triệt để về một xã hội lý tưởng không còn gia cấp và nhà nước.

Khác với các khảo hướng quen thuộc của các sử gia, bà không những tìm hiểu điều kiện hình thành của chế độ Đức Quốc Xã và Stalin, mà kết hợp hai hình thức độc tài này để giải thích về nguồn gốc của một chế độ toàn trị. Để nắm quyền cai trị một đất nước suy tàn, chính quyền sử dụng bạo lực không những chỉ trong sinh hoạt chính trị hàng ngày, mà còn chọn khủng bố toàn thể dân tộc là phương tiện mà việc tiêu diệt người Do Thái là một biến cố lịch sử đáng lý không thể xãy ra.

Bố cục

Tác phẩm có ba phần chính là phong trào chống người Do Thái, chủ nghiã đế quốc và chế độ toàn trị.

Phần I trình bày ba chủ đề: Tại sao phong trào chống Do Thái lại thành hình đúng vào thời điểm suy tàn mà không vào thời hưng thịnh của chủ nghiã dân tộc tại các nước châu Âu? Đâu là vai trò của cộng đồng người Do Thái trong đất nước và xã hội? Tại sao chủ nghĩa đế quốc kết hợp đúng vào thời điểm bài Do Thái?

Điều kiện lịch sử vào thế kỷ XVIII và XIX hình thành phong trào chống người Do Thái, khởi đầu là một hiện tượng xã hội phổ biến không chỉ phát sinh tại châu Âu, nơi mà phân biệt sắc tộc mà còn lan trọng, sau đó còn đến Liên Xô, nơi mà phân biệt gia cấp nặng nề.

Chương IV trình bày vụ kiện Dreyfus tại Pháp vào cuối XIX. Dreyfus, một sĩ quan Pháp gốc Do Thái, bị vào tù vì vu cáo làm gián điệp. Mặc dù Dreyfus đã được toà xét là vô tội, nhưng phong trào chống Do Thái trong quân đội, giới tu sĩ Thiên chúa giáo lan tràn ra xã hội. Nhưng tinh thần liêm khiết và dấn thân của giới trí thức Pháp, ý thức trọng pháp và nhân quyền của dân Pháp, và đặc biệt nhất là chính giới tỏ ra chống đối chủ nghiã Phát Xít của Ý trong nước là lý do chính làm cho mức tác hại của phong trào bài Do Thái tại Pháp không quá trầm trọng như tại Đức, Áo, Hung và Đông Âu.

Trong khi phong trào bài Do Thái khắp châu Âu lên cao điểm, thì cộng đồng người Do Thaí cũng mất đoàn kết trước hiểm hoạ và xem cộng đồng Do Thái tại Đức là một ngoại lệ trong lich sử. Dù cộng đồng này là một thành phần sắc tộc nhỏ, nhưng chính giới và dân chúng tìm mọi cách quy trách là tác nhân chính cho mọi tình trạng suy vi trong xã hội.

Thực ra, vai trò tài trợ của các nhà đại tài phiệt Do Thái trong tất cả mọi sinh hoạt công trong chế độ phong kiến không còn nhiều và không phải bóc lột kinh tế của giới Do Thái thể hiện trong hằng ngày, mà sự giàu có và vai trò quyết định tối hậu trong mọi sinh hoạt quốc gia, dù tiểm ẩn, nhưng đó là nguyên nhân làm cho sự thù ghét trong toàn xã hội bộc phát.

Phần II bàn về chủ nghiã đế quốc như là mối đe doạ cho toàn cầu vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đó là một giai đoạn chuẩn bị cho thảm họa sắp tới của chế độ toàn trị và dân tộc Do Thái bị ảnh hưởng trong trong trào lưu này.

Chính giới phương Tây lập luận là các chính sách phát triển kinh tế bị hạn chế do các luật lệ vốn có sẳn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Rào cản pháp luật này cần phá vở mà tăng trưởng kinh tế liên tục và mở rộng sức mạnh khỏi biên giới quốc gia là mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc.

Từ 1884-1914, khẩu hiệu của "mở rộng vì lợi ích" đã được sử dụng để biện minh cho việc chinh phục nước ngoài, vì đó là lợi ích của dân tộc và cũng là một phương châm kinh doanh cho các công ty khai thác dã man người nước ngoài. Đóng vai trò tiên phong trong chính sách này là một số các nhà tài phiệt Do Thái có óc phiêu lưu mạo hiểm.

Có hai hình thức của chủ nghiã đế quốc, một tại châu Âu và một tại hải ngoại, mà Nam Phi và các nước thuộc điạ khác của Anh và Pháp là thí dụ. Vì theo đuổi chính sách đế quốc ở hải ngoại với chiều hướng kinh tế tư bản chủ nghiã mà chính sách kỳ thị chủng tộc hình thành. Giới thống trị da trắng gốc người Hoà Lan tại Nam Phi không chấp nhận người da đen về mọi mặt. Họ du nhập nguyên tắc cai trị chính quyền và tổ chức xã hội nước thuộc địa dựa trên màu da. Từ đó, kỳ thị và bóc lột trở thành quy tắc chung trong xã hội. Bà dùng rất nhiều các văn phẩm để chứng minh cho lập luận này.

Chủ nghĩa đế quốc trong châu Âu có những đặc điểm khác, vừa dựa theo khái niệm chủ nghiã dân tộc và sắc tộc thiểu số của một số quốc gia được thành lập muộn màng, mà các nước Đông Âu là thí dụ. Các nước này không thuần chủng và cũng không hề có một ý chí thống nhất về các vấn để chính trị. Do đó, để tạo đoàn kết quốc gia trong giai đoạn mới mà khái niệm về một tập thể dân tộc như một loại ý thức hệ mới nảy sinh. Xã hội có hai thành phần chính, một là giới lãnh đạo cực đoan, thiếu kinh nghiệm, quá giàu, hai là đa số giới dân nghèo, họ sống ngoài lề xã hội và không có ý thức sinh hoạt theo đảng phái hay hội đoàn trong một xã hội dân chủ. Cả hai giới nàycó nhu cầu phá vỡ truyền thống xa xưa và cùng muốn liên kết nhau trong hoàn cảnh mới với hai đặc thù.

Một là phong công trào công nghiệp hoá tạo ra vô số người thất nghiệp và không có cơ hội chuyển hướng thích và họ bị chê trách là sản phẩm thừa thải trong xã hội tư sản.

Hai là hậu quả của thế chiến thứ nhất gây cho nạn nhân chiến cuộc lâm vào cảnh tị nạn hay mất quốc tịch. Vấn đề không phải chỉ là họ mất nhân quyền mà chính là họ không còn có một mối quan hệ với cuộc đời và tìm một điểm tựa để chuyển hướng. Do bối cảnh bất ổn cá nhân và bất trắc kinh tế tăng lên mà một xã hội đang phân hoá theo gia cấp trở thành một xã hội đại chúng lầm than và vong thân, họ sẳn sàng làm nô lệ mới cho chính quyền nuôi mộng bành trướng chính trị.

Căn bản kết hợp là các chiều hướng thuộc về chủ nghiã tập thể dân tộc và bành truớng đế quốc. Phong trào bài Do Thái là một nỗ lực tuyên truyền được kết hợp trong trào lưu này. Tuyên truyền của chính quyền là nền tảng để sách động quần chúng lầm than. Dù là mị dân nhưng tác động này thành công. Do đó, một phong trào quần chúng trong xã hội thành hình và chiếm mọi ưu thế trong sinh hoạt.

Phần III là trọng điểm của tác giả để giải thích về nguồn gốc của một chế độ toàn trị mà Đệ Tam đế chế của Đức và Bolchevik của Liên Xô là thí dụ.

Chế độ toàn trị thành hình trong một nhà nước dân tộc suy tàn, tình trạng vô chính phủ đi trước và một xã hội đại chúng bị phân hoá triệt để theo sau. Ngay khi nắm quyền Hitler đã ý thức về các hậu qủa của khủng hoảng xã hội này, nên tìm cách tiếp tục hủy diệt mọi sinh hoạt xã hội của người dân. Stalin, ngược lại, qua chủ trương xoá bỏ giai cấp cũng đi đến một tình trạng toàn trị tương tự.

Xã hội giai cấp suy tàn khởi đầu và biến dạng thành một xã hội đại chúng lầm than và vô tổ chức. Không có đại chúng tham gia, tất nhiên sẽ không có một phong trào độc tài. Đó chính là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành một hình thức nhà nước mới. Nhưng phong trào này không có trong khuôn khổ bình thường của một sinh hoạt chính đảng hay hội đoàn theo hệ thống, mà là một tình trạng bạo loạn luôn biến động của buổi giao thời mà mọi người như cát bay trong gió: Đó là một đại chúng gồm có các cá nhân đầy lòng thù hận và nghi ngờ. Tình trạng thất nghiệp và lạm phát làm cho lý do tham gia chống Do Thái của giới bình dân lên cao.

Vai trò của trí thức sách động cũng quan trọng không kém. Đặc điểm chính là chính quyền tuyên truyền ý thức hệ giả tạo và khủng bố toàn diện xã hội. Cả hai kết hợp nhau tạo ra một tình trạng bất ổn thường trực. Cá nhân vừa không còn tự do và suy nghĩ, chỉ còn chấp nhận hợp tác với chế độ là cách cuối cùng.

Bà mô tả khá chi tiết các trại tập trung và cách huỷ diệt người Do Thái. Tất cả nạn nhân đều phải khuất phục truớc cách toàn trị vô nhân đạo. Đây chính là một lò sát sinh để thử nghiệm xem chế độ nhà nước độc tài được điều hành như thế nào và mức độ đối kháng của nạn nhân đến đâu. Giết người một cách có hệ thống bất kể là ai và như là một loại côn trùng hay là sinh vật thừa thải trong xã hội. Bà tố cáo là chế độ này đáng lý không thể xãy ra.

Kết luận có hai khía cạnh quan trọng. Một mặt, chế độ toàn trị đạt được quyền hành bằng cách tuyên truyền ý thức hệ giả tạo và khủng bố toàn dân tộc một cách vô nhân đạo, dùng con người để thử nghiệm về quyền lực đàn áp nhưng không nhận trách nhiệm về những bất công trước lịch sử.

Mặt khác, chế độ độc tài không thể tiêu diệt một dân tộc, một điều tất yếu vừa là nguồn hy vọng, nhưng nguy cơ này cần phải đối phó. Ý thức cá nhân trong tinh thần trách nhiệm chính trị là giải pháp. Dù quan điểm của người dân dị biệt trong mọi sinh họạt, nhưng khi tất cả đồng thuận tạo ra một nền tảng chính trị chung để xây dựng một xã hội trong tinh thần tự do, trách nhiệm, tương kính thì một hy vọng cho tương lai tốt đẹp hơn có thể khởi đầu, mà quan trọng nhất là khi mà con người xem bình đẳng là quyền duy nhất và không còn phân biệt theo chủng tộc, giai cấp, hoặc đảng phái. Nếu đạt được lý tưởng này, chúng ta sẽ thực hiện chủ nghĩa cá nhân tự do với những lý tưởng cao cả, tôn trọng phẩm giá của mỗi con người và chịu trách nhiệm chung cho tất cả.

Nhận xét

Ấn bản Đức ngữ là một tác phẩm khó đọc và bị chỉ trích với nhiều lý do. Về mặt hình thức, tác phẩm thiếu cân đối vì nhiều luận điểm thiếu bằng chứng để thuyết phục. Có quá nhiều chú giải không theo chuẩn mực dẫn luận thông thường, nhiều chổ dài hơn bản văn.

Vì nội dung sách được tăng bổ nhiều lần, nên bố cục không còn mạch lạc như ấn bản Anh ngữ. Các chương cuối sách là những tiểu luận chuyên biệt hơn là kết luận cho toàn tác phẩm. Giới phê bình nghiêm túc không thể phân loại tác phẩm này vào lĩnh vực nào, triết học, sử học hay chính trị học hay là một khảo cứu liên khoa đúng nghĩa và cũng không là một cáo trạng cá nhân.

Tác phẩm thể hiện một cá tính độc lập và một phong cách tư duy độc đáo của một triết gia dấn thân trong vấn đề tố cáo tội ác của một nhà nước độc tài trước bất công của lịch sử. Đó là tấm gương can đảm mà người Việt quan tâm thời cuộc cần so chiếu.

Tóm lại, tuyên truyền sách động về một ý thức hệ giả tạo và khủng bố toàn dân trong một đất nước đang suy tàn là nguyên nhân thành hình của chế độ. Do bất lực nội tại của chế độ mà tiến trình tự hủy phát sinh tất yếu. Nhưng chế độ độc tài không thể hủy diệt toàn thể dân tộc và ý thức hồi sinh một thể chế dân chủ và cộng hoà của toàn dân là một hy vọng khởi đầu. Các lý giải này của Hannad Arendt về nhà nước độc tài của Đức và Nga trước đây vẫn đúng cho chế độ của ĐCSVN hiện nay.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.