Hôm nay,  

Bất ổn kinh tế còn kéo dài

1/8/201610:01:00(View: 5649)
Bất ổn kinh tế còn kéo dài
 
Joseph E. Stiglitz
 
Đỗ Kim Thêm dịch

Năm 2015 là một năm quá khó khăn cho khắp mọi nơi. Brazil rơi vào suy thoái. Kinh tế Trung Quốc trải nghiệm một cuộc va chạm nghiêm trọng đầu tiên sau gần bốn thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng và gian nan. Khu vực sử dụng tiền euro quản lý để tránh cho Hy Lạp khỏi sụp đổ, nhưng tình trạng gần như trì trệ vẫn còn tiếp tục, nó góp phần làm cho những gì mà người ta chắc chắn sẽ xem đây như là một thập kỷ bị mất. Đối với Hoa Kỳ, năm 2015 được dự đoán là năm cuối cùng xếp lại cuốn sách về cuộc Đại suy thoái, mà nó đã bắt đầu mở ra từ năm 2008; thay vào đó, sự phục hồi của Mỹ đang là khá vào mức trung bình.


Thật vậy, Christine Lagarde, Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đã tuyên bố là tình trạng hiện nay của nền kinh tế toàn cầu là bình thường mới. Những người khác, khi hồi tưởng tình trạng cực kỳ bi quan sau khi kết thúc Thế chiến thII, họ e sợ rằng nền kinh tế toàn cầu có thể rơi vào suy trầm, hoặc ít nhất là tình trạng trì trệ còn kéo dài.


Đầu năm 2010, tôi đã cảnh báo trong cuốn sách của tôi là Freefall, trong đó tôi mô tả các biến cố dẫn đến cuộc Đại suy thoái, mà nếu không có các phản ứng thích hợp, thì thế giới chịu liều rơi vào những gì tôi gọi là một cuộc Đại Hoạ. Thật không may, tôi đã có lý: Chúng ta đã không làm điều cần thiết, và rõ ràng là chúng ta đã lọt đúng vào tình trạng mà tôi lo sợ.


Nền kinh tế thiếu sinh động này là dễ hiểu, và các biện pháp khắc phục vốn đã có sẵn. Thế giới phải đối mặt với sự thiếu hụt của tổng scầu, gây ra bởi một sự kết hợp của sự bất bình đẳng ngày càng tăng và một loạt các biện pháp thiếu suy xét về cách tiết kiệm ngân sách. Những người nhà giàu ở đầu bảng lợi tức chi tiền ít hơn so với những người nghèo ở cuối bảng, vì vậy mà luồng tiền di chuyển đi lên, khi lượng nhu cầu đi xuống. Và các nước như Đức mà tình trạng số thặng dư ngoại tệ cao còn kéo dài, nên họ tạo ra một vấn đề quan trọng cho lượng nhu cầu chung khiếm hụt.


Cùng lúc ấy, Mỹ bị một dạng nhẹ hơn của các biện pháp tiết kiệm ngân sách hiện đang áp dụng ở châu Âu. Thật vậy, ở Mỹ có ít hơn 500.000 người là được sử dụng trong các khu vực công so với trước thời khủng hoảng. Nếu có sự mở rộng bình thường trong vấn đề nhân dụng của chính phủ kể từ năm 2008, chắc sẽ có được hơn hai triệu người là có việc.


Hơn nữa, phần lớn thế giới đang phải đối mặt - với tình trạng khó khăn – là nhu cầu chuyển hoá về mặt cấu trúc: từ sản xuất chế biến cho đến dịch vụ ở châu Âu và Mỹ, và từ sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu là chính sang đến nền kinh tế do nhu cầu nội địa làm chủ đạo ở Trung Quốc. Cũng tương tự như vậy, hầu hết các nền kinh tế dựa trên tài nguyên thiên nhiên ở châu Phi và châu Mỹ La tinh, họ đã không tận dụng lợi thế của sự bùng nổ giá thương phẩm được cũng cố bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc để tạo cho mình thành một nền kinh tế đa dạng. Bây giờ họ phải đối mặt với những hậu quả của sự ép giá cho các mặt hàng chính để xuất khẩu. Thị trường không bao giờ có thể tự làm biến đổi về cấu trúc như vậy dễ dàng cho họ.


Có những nhu cầu lớn lao trong toàn cầu chưa được đáp ứng mà nó có thể thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ với cơ sở hạ tầng là có thể thu hút hàng nghìn tỷ đô la đầu tư, biện pháp này không chỉ đúng trong các nước đang phát triển, mà còn đúng cho Mỹ, nơi mà cơ sở hạ tầng chủ yếu đã không đầu tư đúng mức trong nhiều thập kỷ. Hơn nữa, toàn thế giới cần phải trang bị thêm để đối mặt với thực tế của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu.


Trong khi các ngân hàng của chúng ta đang hồi phục được tình trạng lành mạnh, họ đã chứng tỏ là họ không đủ sức để đạt mục tiêu. Họ tỏ ra nổi trội trong việc khai thác và làm biến động thị trường; nhưng họ đã thất bại trong chức năng thiết yếu trong các vai trò trung gian. Giữa những người tiết kiệm dài hạn (ví dụ, quỹ tài sản của nhà nước và những quỹ tiết kiệm cho hưu bổng) và chương trình đầu tư dài hạn trong cơ sở hạ tầng nằm trong khu vực tài chính có nhiều thiển cận và bị rối loạn chức năng.


Cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị cuả Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ là Ben Bernanke đã từng nói rằng thế giới đang bị một tình trạng "thừa tiết kiệm". Tình trạng này có thể là trường hợp sử dụng tốt nhất v tiền tiết kiệm cuả thế giới đđầu tư vào các nhà tệ hại ở vùng sa mạc Nevada. Nhưng trong thế giới thực, có tình trạng thiếu hụt của các ngân quỹ; thậm chí các dự án có doanh thu về mặt xã hội cao, nhưng thường là không thể được tài trợ.


Việc chữa trị duy nhất cho tình trạng bất ổn của thế giới là làm gia tăng tổng số cầu. Tình trạng tái phân phối sâu rộng mức thu nhập sẽ hữu ích, như cải cách triệt để hệ thống tài chính của chúng ta - không chỉ để ngăn chặn việc áp đặt các nguy cơ cho các tầng lớp khác của chúng ta, mà còn để giúp cho các ngân hàng và tổ chức tài chính khác làm những gì mà họ được suy đoán là phải làm: đó là tạo kết hợp cho các tiết kiệm dài hạn cho các nhu cầu đầu tư dài hạn.


Nhưng một số vấn đề quan trọng nhất của thế giới sẽ cần có đầu tư của chính phủ. Chi tiêu như vậy là cần thiết trong cơ sở hạ tầng, giáo dục, công nghệ, môi trường, và tạo điều kiện cho các thay đổi về mặt cơ cấu cần thiết trong khắp mọi nơi trên trái đất.


Những trở ngại về mặt kinh tế toàn cầu không chỉ bắt nguồn từ kinh tế, nhưng từ trong chính trị và ý thức hệ. Khu vực tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng và suy thoái môi trường mà hiện nay chúng ta phải tính đến. Các thị trường sẽ không thể giải quyết những vấn đề này và các vấn đề quan trọng khác mà thị trường đã tạo ra, hoặc khôi phục lại sự thịnh vượng cho mình. Các chính sách của chính phủ tích cực là cần thiết.


Điều đó có nghĩa là phải khắc phục thâm hụt quá mức. Nó tạo ra ý nghĩa đối với các nước như Mỹ và Đức, mà cả hai có thể cho vay với lãi suất âm và thực trong dài hạn để cho vay đối với các khoản đầu tư khi cần thiết. Cũng tương tự như vậy, ở hầu hết các nước khác, tỷ lệ doanh thu qua đầu tư công vượt xa phí tổn của các quỹ. Đối với những nước này, đi vay bị hạn chế, nhưng còn có một giải pháp, đó là dựa trên nguyên tắc lâu đời của tác dụng cuả số nhân trong việc cân đối ngân sách. Sự gia tăng công chi được tài tr với cách tăng thuế sẽ kích hoạt cho nền kinh tế. Thật không may, có nhiều quốc gia, trong đó có Pháp, đang tham gia vào các biện pháp thu hẹp để đem lại quân bình ngân sách.


Những người lạc quan nói rằng năm 2016 sẽ là năm tốt hơn so với năm 2015. Điều đó có thể thành sự thật, nhưng quá mơ hồ nên không ai có thể nhận ra như vậy. Khi mà chúng ta không giải quyết vấn đề thiếu hụt trong tổng số cầu trên toàn cầu, thì các bất ổn sẽ còn keó dải.



***


Joseph E. Stiglitz đoạt giải Nobel về Kinh tế và là Giáo sư Đại học Columbia. Ông là Chủ tịch Hội Đồng Tư Vấn Kinh tế cho Tổng Thống Bill Clinton và đã làm việc cho Ngân Hàng Thế Giói trong chức vụ Phó Chủ Tịch. Tác phẩm mới nhất của ông viết chung với Bruce Greenwald là Creating Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.


Nguyên tác: The Great Malaise Continues

http://www.project-syndicate.org/commentary/great-malaise-global-economic-stagnation-by-joseph-e--stiglitz-2016-01


.
.

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.