Hôm nay,  

Vui Buồn Với Viện Đại Học Huế

05/02/201600:00:00(Xem: 10964)
blank
Tháng 8 – 2015 vừa qua, các cựu sinh viên, giáo sư thuộc Viện Đại học Huế trước năm 1975 đã hội họp thăm viếng nhau tại Little Saigon, California để cùng nhớ lại một thời làm việc tại ngôi trường Đại học nằm êm ả bên bờ sông Hương của cố đô Huế.

Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, nguyên Phụ tá Viện trưởng đặc trách ngoại vụ là Trưởng Ban Tổ chức. Buổi họp mặt có hơn 300 cựu sinh viên, nhân viên, giáo sư các khoa và cựu Viện trưởng, giáo sư Lê Thanh Minh Châu tham dự.

Quý vị trong Ban Tổ chức sau đó định thực hiện một Đặc San ghi lại những vui buồn với Viện Đại học Huế, và có mời tôi đóng góp.

Đại học Huế đối với tôi thật lạ mà cũng thật quen. Khi tôi rời Huế vào Saigòn theo học lớp cán sự vô tuyến điện, rồi năm sau - 1955- vào trường đào tạo Kỹ sư cơ khí Hải quân tại Pháp thì Đại học Huế chưa ra đời. Cuối năm 1957 khi tôi trở về thì biết Viện Đại học Huế đã được tổng thống Ngô Đình Diệm khai sinh bằng một nghị định thành lập vào Tháng Ba. Nghe tin thấy mát lòng và thích thú như mẹ vừa sinh cho mình một đứa em gái.

Tôi cảm thấy vinh dự vì miền quê nhỏ bé của mình, nơi tôi đã sinh ra, lớn lên, trải qua những năm học trường làng, trường tiểu học rồi vào trường Trung học Khải Định - đi học với chiếc tơi cá và đôi guốc gỗ nghèo nàn - như xứ Huế vẫn nghèo nàn – bây giờ đã có một Viện Dại học uy nghi.

Khi tôi về nước Viện Đại học Huế đã có 5 phân khoa: Sư phạm, Văn khoa, Luật khoa, Hán học, và Khoa học. Trong niên khóa đầu có 358 sinh viên. Đến năm 1960-1 sĩ số nhanh chóng tăng lên 1431 sinh viên. Năm 1959 mở thêm chương trình dự bị y khoa.

Tôi theo dõi sự trưởng thành của Viện Đại học Huế như theo dõi sức khỏe của một cô em. Tôi nghĩ rằng theo binh nghiệp nay đây mai đó trên sông ngòi và biển cả chắc không có cơ hội nào gần gũi cô em gái thân thương.

Thế nhưng có duyên thì tới. Năm 1970 khi tôi đang làm giảng viên tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang thì giáo sư Nguyễn Văn Hai, khoa trưởng Phân khoa Khoa học thuộc đại học Huế mở thêm các môn học về Tạo tác, Thủy lợi cho sinh viên khoa học và cần giảng viên các môn kỹ thuật. Thầy mời tôi làm giảng viên bán thời hai môn: Nhiệt Động học và Điện Lý thuyết cho lớp Tạo Tác và Thủy Lợi. Lúc thầy mời tôi do dự nghĩ mình chưa đủ tư cách dạy đại học. Nhưng thầy Hai nhấn mạnh thầy cần giáo sư có khả năng kỹ thuật, và môn Nhiệt động học hiện nay không có ai phụ trách. Nhiệt động học (Thermodynamics) là môn nghiên cứu về khả năng biến nhiệt thành lực và là lý thuyết căn bản để hiểu sự vận hành và chế tạo các loại máy nhiệt-động như máy chạy xăng, máy chạy bằng diesel, tur-bin hơi nước, máy phản lực của máy bay v.v… và đó là môn học chính trong chương trình đào tạo một kỹ sư cơ khí Hải quân.

Thầy Nguyễn Văn Hai là giáo sư Lý Hóa của tôi năm đệ tam (niên khóa 1952-1953) tại trường Khải Định. Lúc đó thầy vừa dạy vừa tự luyện để hoàn tất văn bằng Cử nhân Giáo khoa Khoa học. Tôi có thói học trước trong sách giáo khoa chương trình Pháp cũng là sách thầy dùng để gỉảng bài cho chúng tôi nên thầy trò rất tương đắc.

Tôi có duyên với thầy Hai. Năm 1956 nhân kỳ nghĩ lễ Phục sinh, bạn trung học Lưu Văn Thăng đang học tại trường Không quân ở Salon, Provence ở miền nam nước Pháp và tôi hẹn gặp nhau ở Paris. Hồi đó cái thú của sinh viên Việt Nam ở Paris ngoài việc đi thăm các thắng cảnh của thủ đô hoa lệ là thú đi ăn cơm Việt ở những tiệm ăn còn rất hiếm hoi. Một hôm tôi và Thăng đang ăn cơm ở một tiệm cơm Việt ở quận 5, cạnh trường đại học Sorbonne và đang nói về thầy Hai mà tôi nghe tin thời gian đó cũng đang ở Paris. Thì kìa, cửa tiệm ăn sịch mở và thầy Hai bước vào. Hú vía, hai đứa nhìn nhau không biết có nói lén gì Thầy không?

Lúc Viện thành lập, khách sạn Morin ở số 2 đường Duy Tân (nay là Khách sạn Sài Gòn Morin ở ngã tư Hùng Vương - Lê Lợi), cạnh chân cầu Trường Tiền đã được chọn làm trụ sở cho 3 trường là Đại học Khoa học, Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm. Đến năm 1964 trường Đại học Sư phạm xây dựng xong cơ sở 32 - 34 Lê Lợi và dời về đó, nên ở khu Morin chỉ còn hai trường Đại học Khoa học và Đại học Văn khoa.

Các lớp Tạo Tác – Thủy Lợi thuộc Khoa học đại học học trong vòng thành khách sạn Morin, đi vào bằng cửa sau, mỗi lớp chừng 30 sinh viên. Trong hai niên khóa 1970-71 và 1971-72 mỗi năm tôi về thỉnh giảng 3 lần, mỗi lần 5 ngày. Nhờ ở trong ban giảng huấn của trường Sĩ quan Hải quân tôi được sự rộng rãi của vị Chỉ huy trưởng trong việc đi lại khỏi đơn vị. Hãng vận tải hàng không Air Việt Nam không có đường bay Nha Trang – Huế. Phòng lo di chuyển của Đại học Huế gởi vé máy bay Nha-Trang-Sài gòn-Huế cho tôi. Từ Sài gòn tôi hay đi cùng chuyến bay với các giáo sư thỉnh giảng khác như giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, bác sĩ Bùi Duy Tâm, Kiến trúc sư Tôn Thất Cảnh… Ở Huế chúng tôi được đại học Huế sắp xếp tạm trú tại nhà khách dành cho các giáo sư thỉnh giảng. Cơm nước ngày ba lần do hai vợ chồng bác Bỉnh phụ trách. Thực đơn cơm trưa và tối hai bác luôn thay đổi thật ngon miệng nhưng tôi không nhớ nổi là những món gì. Nhưng buổi sáng thì không quên được. Ngày nào cũng như ngày nào. Cơm Tây: bánh mì, trứng gà ốp la (oeuf sur plat), xì dầu hảo hạng và cà phê lọc rỉ rả.


Thời gian chờ mấy giọt cà phê rơi tôi được nghe những câu chuyện của bác sĩ Bùi Duy Tâm và giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Giáo sư Huy lúc đó là một trong những nhân vật lãnh đạo Phong trào Quốc gia Cấp tiến thường nói chuyện chính trị. Nhưng bác sĩ Tâm lúc đó giữ chức vụ Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế thì thuần nói đến chương trình cải tổ ngành y ông ấp ủ. Thời gian này vừa sau trận Mậu Thân, các bác sĩ Đức bị giết, các bác sĩ Việt rút về Sài gòn chỉ ra thỉnh giảng. Và sự đóng góp của bác sĩ Tâm để giữ cho Đại học Y khoa Huế còn thoi thóp hoạt động thật là lớn lao mặc dù vì công việc khác ông cũng không thường trú tại Huế. Ông đã có dịp thực hiện các hoài bảo của ông là tiếp tay đào tạo nên một lớp bác sĩ đầy đủ kiến thức y khoa Đông – Tây với khả năng chuyên môn phong phú phục vụ sức khỏe cho đồng bào và quân đội trên mọi nẽo đường đất nước. Nói đến đại học Huế nhất là trường Y khoa mà không nhắc đến bác sĩ Bùi Duy Tâm thì không khác gì nói đến trận Điện Biên Phủ mà không nói đến ông tướng Võ Nguyên Giáp, câu chuyện trở nên nhếch nhác như một đám cưới không có cô dâu. Tôi thích những câu chuyện dí dõm của bác sĩ Tâm và những ý tưởng luôn khác người và lập dị của ông. Tính lập dị của bác sĩ Bùi Duy Tâm đã tạo nên nhiều hiểu lầm đáng tiếc về lập trường chính trị của ông.

Khu tạm trú của giáo sư thỉnh giảng nằm trong khu cư xá giáo sư đại học bên bờ sông An cựu góc cầu ga trên đường Lê Lợi. Bên kia là khu hành chánh của Viện Đại học. Thời Pháp thuộc cho đến năm 1947 Viện là Ty Công chánh Thừa Thiên. Dưới thời quốc trưởng Bảo Đại từ 1949, ông Phan Văn Giáo làm thủ hiến Trung phần nơi này là trung tâm hành chánh của phủ thủ hiến. Đây là nơi năm 1950, một người Đức thuộc đoàn quân Lê Dương của Pháp bị Việt Minh bắt, sau theo Cộng được bố trí về ám sát ông Gíáo. May ông Giáo hôm đó không có mặt ở văn phòng, ông Hà Văn Lan, phó thủ hiến tiếp khách thay bị bắn chết tại chỗ. Trớ trêu của cuộc chiến “nồi da xáo thịt” lúc đó ông Thiếu Tá Hà Văn Lâu, em ruột ông Lan đang chỉ huy một Tiểu đoàn Việt Minh đánh nhau với quân đội Pháp trên con đường từ Quảng Trị dẫn vào Huế, những trận đánh một ký giả Pháp ông Bernard Fall đã ghi laị trong cuốn sách nổi tiếng “La Rue Sans Joie” (Con Đường Không Vui) của ông. Tiếp tục phóng sự chiến trường, ông Bernard Fall đã đạp mìn chết trên con đường đó.

Hằng ngày theo lịch trình bác Chương tài xế đưa đón đi về đều đặn. Thường là những đoạn đường ngắn, bác Chương ít nói chăm chú công việc đúng giờ đúng giấc nên các giáo sư thỉnh giảng ai cũng mến bác. Chỉ có một lần trời xấu máy bay không đáp được xuống sân bay Phú Bài, bác Chương lái xe đưa cả đòan giáo sư thỉnh giảng vào Đà Nẵng đáp máy bay trở về Saigòn. Vào mùa gió Đông Bắc, bầu trời phía bắc đèo Hải Vân mây phủ, nhưng sau khi vượt qua đỉnh đèo thì trước mắt bầu trời xứ Quảng tạnh ráo sáng trưng. Qua đoạn đường dài bác Chương kể chuyện đại học Huế và trong câu chuyện tôi chỉ còn nhớ bác rất tự hào miền Trung “của bác, của tôi,” đã có một đại học.

Vào năm 1981, tại hải ngoại giáo sư Nguyễn Thanh Trang đang giữ chức vụ “Senior Manager” cho công ty Broadway Department Store ở Los Angeles có sáng kiến thành lập Hội Thân hữu Đại học Huế. Một buổi họp gồm 40 cựu giáo sư gồm ông bà Viện Trưởng Lê Thanh Minh Châu, ông bà giáo sư Lê Văn cựu Khoa trưởng Sư phạm Huế, giáo sư Âu Ngọc Hồ, và nhiều giáo sư khác tham dự được triệu tập tại thành phố Mission Viejo và Hội Thân Hữu Đại Học Huế đã được thành lập. Giáo sư Nguyễn Thanh Trang là vị Chủ tịch đầu tiên. Tôi được tham dự sinh hoạt với hội qua các kỳ họp năm 1982, và năm 1983. Kỳ họp năm 1982 có linh mục Cao Văn Luận, vị viện trưởng sáng lập Viện tham dự.

Năm 1984, giáo sư Âu Ngọc Hồ làm chủ tịch hội thay giáo sư Nguyễn Thanh Trang. Sau đó vì những lý do ngoài ý muốn hội gần như ngưng hoạt động … cho mãi đến gần đây nhờ sinh hoạt hằng năm của các cựu sinh viên Y khoa Huế, Hội lại tái hoạt động.

Đối với tôi còn một kỷ niệm không trọn vẹn với Đại học Huế đáng ghi nhớ. Năm 1999 tôi về thăm Việt Nam lần đầu tiên. Một người cháu rể làm việc tại Ty Thể Thao cho biết nhiều sinh viên lớp Xây Dựng & Tạo Tác tôi dạy hiện đang là những cán bộ then chốt tại các Ty Công Chánh, Kiến Thiết … của thành phố Huế ngỏ ý tổ chức một buổi hội ngộ thầy trò gặp nhau. Vì một lý do nào đó buổi hội ngộ bất thành, nhưng tôi không bao giờ quên cái tình nghĩa trong đẹp đó.

Những kỷ niệm vui buồn của tôi đối với Đại học Huế là vậy. Dù chỉ là khách thoáng qua, nhưng ấn tượng thì không bao giờ phai mờ.

Trần Văn Sơn
(bút hiệu: Trần Bình Nam)
Feb. 4,, 2016
[email protected]
www.tranbinhnam.com

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.