Hôm nay,  

Không Sợ Hãi

06/10/201600:00:00(Xem: 10863)

Từ năm 2001, đầu thế kỷ 21, ngôn ngữ truyền thông bắt đầu nhắc đến nhiều từ ngữ “khủng bố,” “chủ nghĩa khủng bố” (terror/terrorism). Đây không phải là từ ngữ mới, nhưng nó được nhấn mạnh và sử dụng nhiều sau sự kiện 11/9/2001, với tòa tháp đôi ở New York sụp đổ hoàn toàn do những chiếc phi cơ bị những kẻ khủng bố Al-Qaeda dùng bạo lực cưỡng chế phi hành đoàn, điều hướng đâm vào. Trước đó 6 tháng, vào ngày 10 tháng 3 năm 2001, lực lượng Taliban ở A-phú-hãn (Afghanistan) đã cho nổ bom làm sụp đổ hai tượng Phật khổng lồ khắc trong núi đá, có niên đại hơn 1500 năm. Hành động phá hủy tượng Phật lúc đó dù là hành vi bạo động nhưng không bị xem như là khủng bố, mà là hành động hủy diệt văn hóa nhân loại nghiêm trọng (theo sự lên án của Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục LHQ - UNESCO). Vậy, có thể hiểu “khủng bố” là lời nói hay hành vi đe dọa trực tiếp đến mạng sống và đời sống của con người; nhẹ thì từ những cá nhân với mục đích trục lợi, tống tiền; nặng thì từ các tổ chức tôn giáo, chính trị để nêu cao lý tưởng của họ, hoặc từ các nhà cầm quyền nhằm ngăn chặn tiếng nói đối lập để giữ vững chế độ.

Từ “khủng bố” cũng được nghe quen từ bản Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh do Pháp sư Trần Huyền Trang (Đường Tam Tạng) dịch từ Prajđā Pāramitā Sūtra vào năm 649, sau được cô đọng lại thành bản Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh 260 chữ. Trong kinh văn nầy, chữ “khủng” và “bố” đều mang nghĩa đơn giản là (bị) sợ hãi, đe dọa; mà để không bị sợ hãi, đe dọa, tâm phải tịch lặng, an nhiên, không bị vướng mắc, trở ngại (tâm vô quái ngại). Tâm không bị vướng mắc, ngăn ngại là tâm vô trụ (ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm); tâm vô trụ là tâm không có tự ngã, là tâm bản nhiên, tâm bất sanh. Chỉ với cái tâm như thế, mới không còn sợ hãi.

*

Trong hoàn cảnh mà nhan nhản chung quanh chỉ toàn là những lời hư dối, người ta sợ phải nói những điều trung thực; nói ra có thể bị bắt bớ, đánh đập, tù đày; nói ra có thể bị mất việc, mất chức, mất địa vị, mất danh tiếng, mất cả tài chánh để nuôi thân và gia đình, mất cả cơ sở sinh hoạt (chùa chiền, nhà thờ…). Cá nhân đã không dám nói lời trung thực, mà ngay cả tổ chức mà cá nhân đó tham dự cũng không dám bày tỏ điều gì khác với những hư dối chung quanh. Nghĩa là từ cá nhân đến tập thể, từ những tổ chức nhỏ đến những tổ chức lớn qui tụ hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn thành viên, có mặt với sứ mệnh văn hóa, giáo dục, phục vụ lợi ích số đông… mà trong một xã hội đạo đức băng hoại, tụt dốc, và trong nguy cơ mất nước, mất chủ quyền, cũng không thể mạnh dạn nói lên một lời trung thực.


Điều gì đã làm chúng ta sợ hãi không dám lên tiếng bảo vệ sự thực, không dám bày tỏ thẳng thắn mối ưu tư của mình về tình trạng môi sinh đang bị hủy hoại, không dám đưa ra quan điểm của mình về hiểm họa lãnh thổ và biển đảo bị xâm lấn?

Chỉ vì bảo vệ tự ngã của mình mà thôi.

*

Sợ hãi là phản ứng của một người trước một sự kiện hay ấn tượng mà họ đã trải nghiệm, hoặc tiên đoán (nhờ rút tỉa từ kinh nghiệm), sẽ gây thiệt hại đến nhân thân (sức khoẻ, sinh mệnh) hoặc tổn thương, suy giảm đến những gì mình sở hữu (danh dự, tài sản, sự nghiệp…).

Phản ứng này là do chấp vào một cái tôi (ngã chấp) ngay từ khi mới chào đời, rồi được bồi đắp và làm cho kiên cố, sâu nặng thêm theo thời gian với những gì được tạo dựng, sở hữu (ngã sở).

Cái tôi càng lớn, sợ hãi càng sâu.

Cái sợ nầy đến từ bên trong. Những đe dọa, khủng bố từ kẻ khác chỉ là phụ thuộc.

Đập vỡ cái vỏ của tự ngã thì không còn sợ hãi, âu lo; không ai có thể đe dọa, khủng bố chúng ta được nữa.

Nhưng để làm được điều nầy, phải thấy được cả thân và tâm đều là ảo ảnh, không thực. Thân nầy không thực, tâm nầy (cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và nhận thức) cũng không thực.

Thân và tâm nầy không thực thì cả thế gian nầy cũng không thực.

(Đã không thực thì có cần phải lên tiếng về một sự thực, về nỗi thống khổ của số đông hay không?)

Bản chất của tự ngã, của thế gian chỉ là ảo ảnh, chỉ là giấc mộng huyễn hóa. Nhưng tác động nhân duyên của tự ngã và thế giới chúng sinh là có thực. Thống khổ của nhân sinh là có thực.

Khi chúng ta có tri kiến/nhận thức một cách thấu suốt về lẽ không thực của tự ngã, chúng ta có thể vượt qua được những khổ đau (không thực) tác động (một cách không thực) lên thân tâm chúng ta. Nhưng thực trạng khổ đau của con người, của chúng sinh vẫn tiếp diễn trong nhận thức điên đảo mộng tưởng của họ. Vận dụng cái thấy như thực về tự ngã (trí) để dấy khởi lòng thương (bi) đối với thế giới chúng sinh, là con đường của kẻ giác ngộ (bồ-tát).

*

Khi kẻ lữ hành cô độc thong dong bước ngang những lầu đài tráng lệ và những xó xỉnh sình lầy bẩn nhơ, nhân sinh vẫn cất lên tiếng than khóc về nỗi trầm thống bất tận của họ.

Một lời nói để đắp thêm tiếng thơm hay lợi lạc cho tự thân: không cần thiết; nhưng bày tỏ trung thực về thực trạng khổ đau của kiếp người: rất nên.

California, ngày 24 tháng 9 năm 2016

Vĩnh Hảo
(www.vinhhao.net)

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.