Hôm nay,  

Đô La Lên Giá Mới Khổ

14/12/201600:00:00(Xem: 8591)

Kể từ năm 2014 dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh hao hụt mất một phần tư...

Trong tuần này, nhiều phần thì Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ sẽ tăng lãi suất với hậu quả trước mắt là đồng Mỹ kim lại lên giá so với các ngoại tệ khác. Các nền kinh tế đang phát triển mà vay mượn quá nhiều bằng tiền Mỹ sẽ bị ảnh hưởng trước tiên. Nguyên nhân vì sao, mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sau đây...

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Như nhiều người chờ đợi, tuần này Ngân hàng Trung ương Mỹ có thể tăng lãi suất làm Mỹ kim sẽ lên giá so với các ngoại tệ khác, sau khi đã lên giá từ hai năm qua. Từ mươi ngày qua, Việt Nam lên cơn sốt vì đồng bạc Việt Nam sụt giá mạnh so với đô la Mỹ và đã có lúc vượt qua ngưỡng 23 ngàn mới ăn một Mỹ kim. Vì vậy, kỳ này, thưa ông Nghĩa, Diễn đàn Kinh tế đề nghị ông trình bày về nguyên nhân và hậu quả của việc Mỹ kim lên giá.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau khi Ngân hàng Trung ương Mỹ nâng lãi suất ngắn hạn 25 điểm bách phân tức là 0,25% cách nay một năm, hầu hết mọi người đều chờ đợi là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng sau kỳ họp tuần này của Ủy ban Tiền tệ và Tín dụng Hoa Kỳ, gọi tắt là FOMC. Lý do cơ bản là kinh tế Mỹ hồi phục nhanh hơn và thất nghiệp giảm mạnh sau khi thống kê lao động được công bố hôm Thứ Sáu đầu tháng. Lý do quan trọng hơn vậy là Tổng thống Tân cử Donald Trump sẽ áp dụng chính sách kinh tế có nội dung tăng chi, giảm thuế và thậm chí bảo hộ mậu dịch để giữ việc làm cho nhân công Mỹ nên nhiều phần thì lạm phát sẽ tăng với hậu quả là trong năm tới, lãi suất tại Hoa Kỳ còn tăng nữa, ít ra là hai lần. Kết cục thì việc Mỹ kim lên giá từ năm 2014 sẽ còn tiếp tục và đấy là vấn đề cho nhiều nước chứ không chỉ có Việt Nam.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, dù có sản lượng kinh tế lớn nhất vì bằng với gần một phần tư sản lượng toàn cầu, vì sao đồng bạc Mỹ lại có thể gây nhiều ảnh hưởng như vậy cho các nước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ta nên cẩn thận khi theo dõi và nhận định chuyện này vì tính trật là lại mất tiền! Tôi còn nhớ là sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 và Hoa Kỳ liên tục hạ lãi suất tới sàn rồi bơm tiền ào ạt, nhiều người, kể cả tại Hoa Kỳ, vội nói đến ngày tàn của tư bản chủ nghĩa và vai trò của kinh tế Hoa Kỳ trong khi nhiều xứ hưởng lợi nhờ đô la rẻ như bèo. Từ giữa năm 2013, khi Ngân hàng Trung ương Mỹ thông báo quyết định họ gọi là “vuốt nhọn chính sách tiền tệ” là giảm dần việc bơm tiền và có khi tăng lãi suất, thì người ta thấy Mỹ kim lên giá. Khi ấy, chương trình chuyên đề của chúng ta đã cảnh báo việc đó. Rằng kinh tế Hoa Kỳ có thể bị suy trầm nhưng so với nhiều khối tiên tiến khác như Âu Châu hay Nhật Bản, thì Mỹ kim vẫn là ngoại tệ đáng tin cậy hơn cả, hoặc ít tệ nhất để bảo vệ giá trị tài sản của mình và nếu tưởng tiền Mỹ rẻ mà đi vay thả dàn thì sẽ khốn khi đô la lên giá. Ta nên nhớ lại chuyện xưa để khỏi lầm chuyện sau khi thiên hạ cứ nói đến ngày tàn của nước Mỹ!

Nguyên Lam: Nếu vậy, thưa ông, ta trở lại chuyện xưa, là vì sao Mỹ kim lại ngự trị trong luồng giao dịch toàn cầu khiến các nước bị chấn động mỗi khi đồng bạc xanh lên hay xuống giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là chúng ta phải trở ngược lên một năm Thân, cách nay 72 năm, thì mới hiểu vì sao Mỹ kim trở nên một ngoại tệ dự trữ của toàn cầu, rồi sau mỗi khi thăng trầm thì thiên hạ lại mất tiền và oán Mỹ! Trước khi Thế chiến II chấm dứt vào năm 1945 thì từ năm 1944, Hoa Kỳ và các đồng minh Tây phương đã xây dựng lại một kiến trúc tài chính quốc tế khác để tránh loại biến động tài chính và khủng hoảng kinh tế đã góp phần gây ra chiến tranh. Đó là Hội nghị tại Bretton Woods và sự ra đời của các định chế tài chính toàn cầu như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hay Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế là tiền thân của Ngân hàng Thế giới ngày nay. Hội nghị ấy quy định rằng ngoại tệ của các nước không còn giàng giá vào vàng, tức là từ bỏ chế độ “kim bản vị”, mà neo giá vào tiền Mỹ theo tỷ lệ nhất định giữa đồng đô la Mỹ và vàng. Đại lược là 35 Mỹ kim ăn một troy ounce, khoảng 31 gram vàng. Sau đó, cách nay đúng 70 năm, kế hoạch viện trợ Marshall của Mỹ nhằm tái thiết Âu Châu từ năm 1947 đã bơm tiền Mỹ vào việc phục hồi Âu Châu. Khi ấy, là cường quốc ít bị thiệt hại về chiến tranh, Hoa Kỳ là đầu máy tái thiết các nước và Mỹ kim trở thành ngoại tệ phổ biến nhất, đến độ các nước Âu Châu còn phát hành công khố phiếu để vay tiền mà là trái phiếu yết giá bằng tiền Mỹ. Người ta gọi đó là “Đô la Âu châu”, hay Euro-Dollars!

- Tháng Tám năm 1971, khi bội chi gia tăng một phần vì phí tổn của cuộc chiến tại Việt Nam, Hoa Kỳ từ bỏ chế độ giao hoán thiết lập từ Hội nghị Bretton Woods, là hết giàng Mỹ kim vào vàng như trước, và gây chấn động nặng khiến nhiều người lại nói đến ngày tàn của nước Mỹ và thiên hạ chẳng xài đô la mất giá nữa. Sự thật không như vậy vì vụ khủng hoảng dầu khí sau đó vẫn khiến các nước cần đô la mua dầu vì dầu thô của xứ Saudi Arabia lại giàng giá vào Mỹ kim và dẫn tới sự xuất hiện của đồng “Đô la Dầu hỏa” hay Petro-Dollars, được các nước trao đổi với nhau và sau cùng vẫn lại gửi vào ngân hàng Mỹ để kiếm lời cho an toàn.

Nguyên Lam: Khi ông nhắc lại bối cảnh lâu dài như vậy thì ta mới thấy ra vị trí khác thường của đồng bạc xanh. Nhưng ông có nói đến vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 khiến nhiều người lầm tưởng là tư bản chủ nghĩa bị khủng hoảng và tiền Mỹ mất luôn vị trí thống trị. Sự thể diễn biến ra sao mà ngày nay, và tuần này, xứ nào cũng lo rằng Mỹ kim lại tăng giá?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta lầm khi cho rằng khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Mỹ với sự sụp đổ của các tập đoàn đầu tư Bear Sterns vào Tháng Ba rồi Lehman Brothers vào Tháng Chín năm 2008. Thật ra, cả Âu Châu lẫn Hoa Kỳ có chính sách bơm tiền và vay mượn dễ dãi, nhất là các ngân hàng Âu Châu vay mượn bằng tiền Mỹ, và thổi lên trái bóng gia cư địa ốc. Bên trong khối tiền này là nhiều khoản nợ xấu được gói kín như trong kén nợ mà xấu chừng nào thì chẳng ai biết. Khủng hoảng tài chính manh nha từ năm 2007 tại Âu Châu rồi mới bùng nổ dữ dội tại Hoa Kỳ. Khi ấy, Ngân hàng Trung ương Mỹ lại đẩy lui nạn ách tắc tín dụng của các ngân hàng với biện pháp tiền tệ dễ dãi làm Mỹ kim sụt giá. Rồi vì tiền Mỹ quá rẻ trong sự trì trệ của khối kinh tế Âu-Mỹ-Nhật, tư bản chảy vào các nước đang phát triển để kiếm lời. Tức là người ta vay nhau vẫn bằng đô la tưởng rẻ như bèo. Khi Mỹ kim lên giá chầm chậm từ hai năm qua thì các nước lỡ vay quá nhiều bắt đầu hụt hơi. Chuyện hôm nay là tiền Mỹ sẽ tăng giá mạnh và nhiều nước đang phát triển sẽ thiếu Mỹ kim để trả nợ và lâm khủng hoảng!

Nguyên Lam: Sau khi nhắc lại khung cảnh ngày trước, xin ông tổng kết cho bức tranh ngày nay và vị trí của đồng Mỹ kim trong luồng giao dịch toàn cầu để thính giả của chúng hiểu được vì sao mà nhiều nước sẽ khổ khi đô la lên giá.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dù lâu lâu thiên hạ lại nói Hoa Kỳ sắp bị khủng hoảng, đồng Mỹ kim vẫn là ngoại tệ phổ biến nhất vì được sử dụng trong hơn 85% nghiệp vụ giao dịch ngoại hối của thế giới, 39% các khoản nợ toàn cầu được yết giá bằng Mỹ kim và tiền Mỹ nằm trong hơn 63% của dự trữ ngoại tệ của các nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi kinh tế Âu Châu, Tầu và Nhật đều gặp khó khăn thì người ta thấy rằng lưu giữ tài sản bằng tiền Mỹ là cách an toàn nhất. Nghịch lý ở đây là thiên hạ vẫn cần tiền Mỹ trong khi thế giới lại lo rằng với việc ông Donald Trump là Tổng thống Tân cử thì Hoa Kỳ sẽ trôi vào giai đoạn bất trắc. Điều bất trắc thật ra là thiên hạ sẽ thiếu đô la và kinh tế thế giới thiếu thanh khoàn để giải quyết nhu cầu chi dụng!

Nguyên Lam: Một cách cụ thể, thưa ông, các nước sẽ gặp những rủi ro gì khi Mỹ kim lên giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là rủi ro ấy không đồng đều vì tùy hoàn cảnh từng nước căn cứ trên ba yếu tố là có khối dự trữ ngoại tệ nhiều hay ít, mắc nợ bằng Mỹ kim cao hay thấp và có trương mục vãng lai hay cán cân chi phó bằng ngoại tệ bị thiếu hụt hay không và người ta so sánh ba yếu tố ấy căn cứ trên Tổng sản lượng của từng nước. Trên cơ sở đó, hiện nay, các nước như Venezuela, Turkey, Chile, và Ai Cập đang bị nguy nhất trong tám nước sẽ bị rủi ro, sau đó mới là cảnh ngộ ngặt nghèo của sáu bảy nước khác, trong đó có Hy Lạp, Argentina, Mexico, Peru và cả Việt Nam nữa vì mắc nợ quá nhiều mà dự trữ ngoại tệ chưa đủ dầy! Nhưng ngoài mười mấy quốc gia đó, chính là kinh tế Trung Quốc mới đáng ngại hơn cả và tuần này khi thiên hạ nói đến việc Mỹ kim lên giá là thị trường cổ phiếu Thượng Hải rơi rớt thê thảm.

Nguyên Lam: Thưa ông, Trung Quốc có sản lượng kinh tế đứng hàng thứ nhì thế giới và bề gì họ vẫn có dự trữ ngoại tệ trị giá hơn ba ngàn tỷ Mỹ kim thì vì sao tình hình lại đáng ngại nhất khi Mỹ kim lên giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, Trung Quốc lâm thế kẹt khi tưởng đã thành đại gia kinh tế. Thứ nhất, họ vẫn giàng giá đồng bạc vào tiền Mỹ và khi Mỹ kim lên giá thì từ 18 tháng nay, họ phá giá, là ấn định tỷ giá đồng Nguyên thấp hơn so với tiền Mỹ khoảng 12% kể tử đầu năm 2014. Tưởng là tiền rẻ sẽ giúp xuất khẩu để kích thích sản xuất nhưng họ bị hậu quả bất lường là nạn tẩu tán tư bản, là doanh nghiệp tìm tiền Mỹ đầu tư ra ngoài. Để tránh tình trạng đó, Bắc Kinh ra biện pháp trái ngược là bán Mỹ kim nhằm giữ giá đồng Nguyên cho cao thì lại càng mất ngoại tệ. Kể từ năm 2014 dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh hao hụt mất một phần tư, từ gần bốn ngàn tỷ thì chỉ còn hơn ba ngàn. Bây giờ, khi tiền Mỹ lên giá thì dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc càng bị bào mỏng hơn. Vậy mà tuần trước, Bắc Kinh vẫn bị Tổng thống Tân cử Donald Trump đả kích là lũng đoạn hối đoái khi phá giá đồng bạc và cảnh báo rằng Hoa Kỳ sẽ có biện pháp trả đũa. Hậu quả là làm đồng Nguyên càng sụt giá và nạn tẩu tán tư bản càng tăng.

- Kết luận ở đây là Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa tăng lãi suất thì việc thị trường dự báo đồng đô la Mỹ còn lên giá khiến Trung Quốc càng lúng túng. Thay vì áp dụng chính sách ngoại hối ổn định, họ cố can thiệp, khi nâng khi hạ giá đồng bạc và rơi vào tư thế còn vất vả hơn nữa, đó là mắc tội lũng đoạn hối đoái để tìm lợi thế thương mại. Cách nay đúng 15 năm, Bắc Kinh được Hoa Kỳ chấp nhận cho gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO kể từ ngày 11 Tháng 12 năm 2001. Khi ấy, họ được điều kiện đặc miễn dù nền kinh tế chưa hội đủ tiêu chuẩn gọi là kinh tế thị trường. Chuyện đặc miễn ấy nay phải chấm dứt mà Bắc Kinh vẫn can thiệp vào thị trường thì sẽ bị gần 160 thành viên WTO còn lại khiếu nại và trừng phạt về tội lũng đoạn. Đúng lúc ấy, Mỹ kim lại lên giá thì Trung Quốc càng rơi vào cảnh lưỡng nan khó xử!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.