Hôm nay,  

Thời Kỳ Cấm Rượu

1/26/201711:35:00(View: 6275)

Thời Kỳ Cấm Rượu

blank

Không chỉ ở phương Đông mà ngay cả ở phương Tây, wine is the drink of the gods, rượu là món quà của thượng đế. Điếu thuốc, miếng trầu, ly rượu là đầu câu chuyện. Gặp gỡ thì cụng ly, chia tay thì ly cụng. Vui thì cạn ly, buồn thì ly cạn. Ly rượu mừng ngày chào đời và giọt cuối cùng cho tang lễ. Ly rượu trải dài từ đầu xuân hân hoan đến tàn đông năm cũ. Vậy mà có một thời gian dài hơn 13 năm, đất nước Mỹ phải trải qua bao sóng gió từ những ly rượu làm sóng sánh lịch sử. Thời kỳ cấm rượu.
 

Sau những năm tháng nhọc nhằn mở mang đất nước về miền Tây hoang dã, một cuộc nội chiến tan hoang, những đường hỏa xa đã lót xong, những người lính của 2 miền trở về quê nhà sau khi đã quen men rượu đầu đời trong cuộc chiến, quán xá là nơi họ tìm nguồn vui, những vại bia vàng óng là nơi các nhà chính khách lẫn thường dân tụ tập cuối tuần. Những saloon mọc lên san sát cạnh các hầm mỏ đào vàng, bạc, than đá...Đó là thế giới của đàn ông. Những người phụ nữ Mỹ nhận thấy ở saloon, không những đã làm hư hỏng các người chồng, người tình của họ bằng men rượu, mà còn bằng tệ nạn bài bạc, mãi dâm...làm sạch túi nguồn lợi tức của gia đình.

Khởi đầu từ những năm 1820 và kéo dài đến 1830, một làn sóng đạo đức và tôn giáo thổi qua nước Mỹ non trẻ, réo gọi sự chấn hưng đời sống có điều độ. Mỗi gia đình là nền tảng cho xã hội, và họ không mong trong mỗi gia đình đó có một ông bố say sưa rượu chè, dẫn đến người vợ bị bạo hành và đứa con phải bỏ học...Ở Ohio vào năm 1870, Bà Eliza Jane Thompson, vợ của một quan tòa, có đứa con trai chết vì nghiện rượu. Bà đã tụ tập một nhóm 200 phụ nữ tiên phương. Từ bên ngoài nhà thờ, sau đó họ đi đến các tiệm bar, các phòng bác sĩ cung cấp toa mua rượu, trưng bày biểu ngữ và quỳ xuống cầu nguyện cùng thuyết phục đừng bán rượu. Phong trào càng ngày càng được nhiều phụ nữ tham gia và dấy lên làn sóng chống đối bán rượu khắp nơi. Hẳn nhiên họ gặp phải khó khăn. Ở Cincinati, xe chữa cháy đã xịt nước vòi rồng vào những người phụ nữ can đảm biểu tình nọ, những bar rượu vờ chào đón những người phụ nữ này vào trong quán, rồi bất ngờ tưới beer lên áo quần họ và xô đẩy họ ra đường. Tuy vậy phong trào chống đối bán rượu của các bà nội tướng ngày càng gia tăng và ảnh hưởng đến các nhà lập pháp dân cử. Song hành với phong trào phụ nữ đòi quyền bầu cử là các Hội Chống Quán Bar, Liên đoàn Phụ nữ Công giáo...Họ cho rằng bia, rượu là tệ nạn dẫn đến tội phạm và suy thoái đạo đức cũng như suy yếu kinh tế nước Mỹ. Cấm bia rượu sẽ giảm tội phạm, gia đình hạnh phúc, nền tảng đạo đức Mỹ quốc gia tăng. Các nguồn chi thu cho gia đình và kinh tế địa phương sẽ dồn vào các mặt hàng thương mại lợi ích khác.

Đồng thời gian ấy, phong trào chống đối những người di cư này càng cao do đời sống kinh tế cạnh tranh khốc liệt. Và những người di dân gốc Châu Âu sành việc sản xuất bia rượu cũng là mục tiêu cho việc cấm đoán. Họ là Anheuser-Busch (Budweiser), Frederick Miller (Miller) và hàng chục các thương hiệu bia, rượu nổi tiếng từ Châu Âu khác. Thế là nước Mỹ đã dần có những cuộc tuần hành "vote dry" đòi bỏ phiếu cấm bia rượu. Từng tiểu bang dưới áp lực của các phong trào, các vị dân biểu đã xem xét dự luật. Năm 1838, tiểu bang Massachusetts đầu tiên áp dụng luật cấm, không bán cho bất kỳ ai mua dưới 15 gallons (gần 57 lít). Điều luật này cho rằng chỉ có người giàu có mới mua nỗi số lượng lớn bia rượu, đa số dân trung lưu không thể mua nỗi. Vào thời kỳ non trẻ của chính quyền lúc ấy thì lực lượng cảnh sát rất ít ỏi, và kẻ bán người mua đã dễ dàng phá luật. Bạn bè hùn nhau lại mua 15 gallon rồi chia nhau, nhà bán rượu làm thùng to 16 gallons, khi khách mua 1 gallons, sẽ được bán nguyên thùng 16 gallons, rồi người bán sẽ mua lại từ người mua 15 gallons. Thế nhưng điều làm đau đầu các nhà làm luật là nhiều mánh khóe dụ khách mua trong hợp lệ như: mời khách hàng mua vé xem các con heo có sọc (họ sơn sọc đen lên con heo) sau khi khách xem sẽ được uống 1 ly rum miễn phí. Các nhà hàng treo bảng "miễn phí ăn trưa" các thực khách sẽ được uống miễn phí sau khi trả tiền giá cao bù lại cho các miếng bánh khô thật mặn. Và nhiều cách khác tương tự...Sau 2 năm thì luật ở Massachusetts được thu hồi. Dù vậy vài tiểu bang khác đã hợp lòng dân ra luật cấm như Maine vào năm 1846, và dần dần áp dụng đến các bang khác cho đến khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ.
Năm 1917, sau khi nước Mỹ tham chiến, tổng thống Woodrow Wilson ban hành luật cấm tạm thời nhằm dành số lượng ngũ cốc cho sản xuất lương thực. Cùng năm đó Quốc hội đệ trình Tu chính án thứ 18, cấm sản xuất, vận chuyển, trao đổi buôn bán các thức uống có cồn. Điều đáng ngạc nhiên là Quốc hội dự trù phải mất đến 7 năm để dự luật có hiệu lực thực sự trên toàn quốc, thì Tu chính án này đã được sự ủng hộ từ đa số 2/3 các tiểu bang chỉ trong vòng 11 tháng. Luật cấm được phê chuẩn vào 29 tháng Giêng năm 1919 và đi vào hiệu lực 1 năm sau. Tuy vậy rải rác các tiểu bang đã có những áp dụng riêng lẻ, cho đến tháng 10 năm ấy, Đạo luật cấm toàn quốc mới khả thi và còn được gọi là Đạo luật Volstead dựa vào tên của Nghị viên Andrew Volstead bang Mississippi.



Chỉ vài phút sau khi luật cấm bia rượu có hiệu lực, 6 kẻ bịt mặt đã xả súng xối xả vào 2 xe tải chở đầy rượu whiskey. Một băng đảng khác cướp 4 thùng chứa cồn làm từ lúa mạch của một nhà kho thành phố. Một chiếc xe tải chở đầy rượu bourbon cũng bị cướp giữa ban ngày...Luật cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán nhưng lại không cấm người ta uống. Và thế là nhu cầu thì mãi có mà cung cấp thì cấm đoán. Người tiêu thụ và kẻ buôn tìm mọi cách, mọi kẽ hở của luật...Họ đi khám bệnh hay hối lộ để có toa chỉ định mua cồn từ bác sĩ. Cồn là rượu. Họ giấu các chai rượu trong giày boot (đôi ủng) khoát chiếc áo dài trùm, đi khệnh khạng nên gọi là bootlegger. Các saloon, quán bar thì bán chui dưới tầng ngầm, lên rầm thượng hay trá hình dưới nhiều dạng thức uống. Những bar như vậy được dân nhậu gọi lóng là speakeasies (nơi nói nhỏ, thì thầm cho biết có rượu). Song song việc nấu rượu lậu gia tăng cùng với chất lượng độc hại do sản xuất pha tạp nhằm lợi nhuận tối đa. Những thùng whiskey được làm kín đáo trong đêm trăng gọi là moonshine. Những mẻ rượu gin được làm trong bồn tắm tại gia gọi là bathtub gin. Thế rồi các quốc gia láng giềng của Mỹ như Canada và Mễ tây Cơ là nơi sản xuất và cung cấp rượu lậu nhập vào nước Mỹ bằng trăm nghìn cách...
Nổi bật trong thời kỳ cấm rượu này là tay trùm găng-tơ Al Capone khét tiếng ở Chicago, thống trị đa số các mạng lưới sản xuất và vận chuyển cũng như buôn bán rượu lậu xuyên qua nhiều tiểu bang. Với thu nhập chừng 60 triệu đô hàng năm vào thời điểm 1929, mua chuộc giới thẩm quyền cảnh sát địa phương, triệt hạ các băng đảng đối lập, bắn giết giữa ban ngày ở nơi công cộng...Al Capone trở thành kẻ thù số 1 của FBI và tổng thống Hoover.

Việc thi hành luật gặp phải muôn vàn khó khăn ở cấp liên bang và đến cả thành phố trong thời gian đầu 1920. Thoạt đầu giao cho sở thuế vụ (IRS) sau đó chuyển qua cho Bộ Tư Pháp. Nhìn tổng thể thì luật cấm ảnh hưởng nhiều đến các vùng nông thôn và tỉnh lẻ. Và có vẻ thành công trong năm đầu. Số tội phạm do say sưa chè chén giảm đi, nhưng ngược lại là số tội phạm do bắn giết giữa các băng đảng gia tăng kinh hoàng.
Sau 13 năm thi hành luật, các nhà lập pháp và dân cử cũng như dân chúng nhận thấy luật cấm đã làm suy thoái nền kinh tế, hàng chục ngàn công nhân từ ngành sản xuất beer rượu bị sa thải, ảnh hưởng đến các saloon, quán bar khắp nước, công nghiệp vận chuyển xe tàu, các nhà hàng ế ẩm phải đóng cửa, dịch vụ giải trí hội hè ca nhạc phim ảnh bị thất thu...Tệ hại nhất là chính phủ liên bang đã mất nguồn thu thuế từ bia rượu đến 11 tỉ đô la, trong khi ấy phải chi ra hơn 300 triệu đô la để áp dụng và thi hành luật. Việc sản xuất rượu lậu với chất lượng xấu ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu thu. Trung bình một ngàn người chết mỗi năm trong thời gian cấm đoán ấy. Giá cả bia rượu ngày càng cao chỉ ảnh hưởng đến dân nghèo, chi phí cho chính phủ lại gia tăng, nhà tù chật kín và số lượng băng đảng gia tăng cao cũng như sự mục rã liêm chính cho các nhà tư pháp, cảnh sát địa phương bị mua chuộc, lobby bằng đồng tiền ướt đẫm bia rượu.
Năm 1932 thì cuộc Đại khủng hoảng đã đi vào khắp đời sống nước Mỹ. Tạo công ăn việc làm và lợi nhuận thu nhập từ thuế bia rượu là điều quyết định sống còn. Đến mùa bầu cử năm 1933 thì FDR đã vận động thành công cho việc hủy bỏ Tu chính án thứ 18, hủy bỏ luật cấm rượu, thay thế bằng Tu chính án thứ 21. Lần đầu tiên trong lịch sử một Tu chính án được thay thế bằng một Tu chính án khác. FDR thắng cử vẻ vang và chúc mừng cho thắng lợi của mình bằng 1 ly martini đậm đà. Đất nước hùng mạnh chuyển mình đi lên dầu mang nhiều vết sẹo của lịch sử băng đảng và thử thách. Một vài tiểu bang vẫn còn cấm đoán, cho mãi đến năm 1966 tất cả các tiểu bang của Mỹ mới thực sự bải bỏ lệnh cấm.

Ở một đất nước có nền dân chủ tuyệt đối như Mỹ, các điều luật luôn được điều chỉnh cho hợp với lòng dân. Dù luật cấm rượu bia không còn nữa nhưng ngày nay 12 tiểu bang vẫn không cho phép bán rượu bia trong ngày Chủ Nhật. Trong đó có Texas. Nếu bạn ghé thăm nhau vào dịp cuối tuần hay có một mình ôm tâm sự lẻ loi trong mùa xuân "buồn như ly rượu đầy, không có ai cùng cạn, buồn như ly rượu cạn, không còn rượu để say."(Buồn-Y Vân) thì nhớ mua trước vào ngày thứ bảy nhé. Vì ngày xuân sẽ còn dài.

Sean Bảo. Jan, 2017.
Tác giả vừa xuất bản cuốn Tạp ghi Chuyện Xưa Kể Lại. Quý bạn đọc muốn mua xin vào link kèm theo. Phát hành toàn cầu. Trân trọng kính mời

.   
blank

  
   



Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.