Hôm nay,  

Đêm Ba Răng

16/03/201700:02:00(Xem: 16430)

(Nhân Lễ Kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Ra Đi được tổ chức tại Hội quán PGHH vào sáng Chủ Nhật 19-3-2017)

Ngày 25 tháng 2 Al  của 70 năm về trước, trên đường đi tham dự buổi họp với Việt Minh, Đức Huỳnh Giáo Chủ có than thở : “Hôm nay là ngày đau khổ nhất ! Ôi ! sao mà đau khổ quá vầy!”.

Chiều Ba Răng xưa ấy, trời bỗng thôi nắng, mây đen vần vũ kéo nhanh, đen kín cả một bầu trời, im lặng, không một tiếng gió, mọi sinh hoạt như ngừng hẳn.Thật là thê lương.

Hai bờ sông trong những năm tháng kháng chiến, lau sậy um tùm mọc tràn lan, khiến đêm hoang vắng  Ba Răng càng thêm âm u rùng rợn.


Đức Huỳnh Giáo Chủ ra lệnh cho đệ tử chèo thuyền. Ngài vào trong khoang thuyền theo sau là bốn cận vệ quân.Thuyền chầm chậm rẽ nước đi từ ngọn Ba Răng đến chợ Phú thành và vòng tới Đốc Vàng Hạ rạch Láng Thượng nơi có hẹn với Bửu Vinh.


Không ai nói một lời, họ len lén nhìn Đức Huỳnh Giáo Chủ và nhận thấy nét trầm tư nghiêm nghị của Ngài mờ tỏ ẩn hiện qua ánh đèn dầu, đong đưa theo nhịp sóng vỗ, cùng với âm thanh xào xạc của lau sậy hai bên bờ sông giữa màn đêm u tịch. 

Bỗng chốc Đức Huỳnh Giáo Chủ lướt nhìn 4 người cận vệ quân của Ngài bằng ánh mắt từ bi và Ngài hỏi : “Có ai biết đường về căn cứ của mình không ?”. Ba người cận vệ  đồng thanh trả lời : “Thưa Thầy con không biết”. Chỉ có Ông Phan văn Tỷ trả lời : “Dạ thưa Thầy con  biết”. Ngài nói bằng giọng ôn tồn cương quyết  với Ông Phan văn Tỷ :  “Có gì khó, cứ nhắm hướng sao cày chạy riết thì về tới chớ gì”.

Thuyền dừng lại. Đức Giáo Chủ đi trước, theo sau là 4 cận vệ quân lên bờ vào nơi hội họp. Đức Huỳnh Giáo Chủ và Bửu Vinh ngồi đối diện nhau và bắt đầu câu chuyện.


Khoảng 10 phút sau, 8 tên bộ đội Việt Minh từ ngoài vào, chia cặp, kè sát 4 bảo vệ quân của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Ba người bị đâm chết ngay, chỉ còn Mười Tỷ nhờ giỏi võ nên thoát thân. Thấy có biến Ngài đã bình thản đứng dậy lẹ làng, thổi tắt ngọn đèn dầu. Văn phòng trở nên tối đen, không ai biết Ngài đi đâu. Tiếng súng nổ liên hồi liên hồi. Người chèo thuyền chạy về báo cho các tướng lãnh hay.


Và  cũng chính đêm ấy, sau khi được tin tại văn phòng thường trực Chi Đội 30 của các tướng lãnh Phật Giáo Hòa Hảo ở căn cứ Phú Thành, tiếng la hét gào thét , khóc ré, nghẹn ngào nức nở, tiếng tù và, tiếng trống mõ nổi dậy inh ỏi, rung chuyển cả một bầu trời, muôn vạn ánh đuốc bập bùng, hằng trăm hàng ngàn đoàn dân quân với: thương, đao, tầm vông vạc nhọn, súng ống  trong một đêm tối đen thê thương, họ đã sẵn sàng để kéo đi giải nguy, báo thù cho Đức Huỳnh Giáo Chủ ...


Bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập hí vang và người kỵ mã chạy vô rất nhanh, hét to : “ Có lệnh của Đức Giáo Chủ Ông Trần văn Soái, Ông Nguyễn Giác Ngộ đâu?”. Tất cả mọi người chen nhau vây quanh người kỵ mã, cúi đầu tiếp lệnh của Đức Tôn Sư:


Ông Trần văn Soái, Ông Nguyễn Giác Ngộ,

Tôi vừa  hội hiệp với Bửu Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát thì các ông đừng tin và đừng náo động, cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chổ,
sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.
Phải triệt để tuân lệnh.”

Ngày 16/4/1947, 9 giờ 15 đêm

Ký tên: HUỲNH PHÚ SỔ

Đây rõ ràng là bút tích của Đức Tôn Sư. Tất cả những quân dân, Tướng lãnh binh sĩ, những tín đồ của Ngài phải cúi đầu, tuân thủ mệnh lệnh của Ngài ... Nước mắt tuôn trào rơi trong oán hận, trong căm hờn.

Thế rồi  từ ngày 16 tháng 4 năm 1947 nhằm ngày 25 tháng 2 al nhuần năm Đinh hợi, Thầy tôi đã ra đi trong một đêm tối, trời sầu gầm thét, sấm sét lập lòe, gió căm hờn lên bão rít như tiễn bước Đức Tôn Sư. Và cũng từ ngày ấy  đất nước  tôi, súng vẫn nổ khắp trời quê hương mù mịt  khói đạn chiến tranh.

Bao nhiêu trai trẻ đã ra đi không hẹn ngày trở lại. Ý đạo dù có bàng bạc khắp làng quê thôn xóm, nhưng vẫn bị khỏa lấp bởi tiếng gầm thét của đạn bom.


Thế gian vốn nhiều đau khổ đêm đêm dưới những ngọn nến lung linh, hàng triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vẫn nép mình trước bàn thông thiên cầu nguyện Mười Phương Chư Phật gia hộ cho quê hương tôi, cho đất nước tôi sớm ngừng thôi: đạn bay, bom nổ. Ngừng, thôi: xiềng xích thống trị ngoại lai, mà những tín đồ nào yêu Đạo vẫn tưởng nhớ đến Đấng Tôn Sư đang rừng ngăn núi cách, ngàn nẻo mù sương ...  Đức Tôn Sư đã phải lặng lẽ ra đi để: “Ta chịu khổ khổ cho bá tánh”, để đổi  lấy duyên nghiệp  xương máu trả vay của chúng sanh nhiều đời kiếp, nhưng vì vô minh nên nhóm người, nhóm đảng vô thần đã tạo ra một đất nước ngã nghiêng suốt thế kỷ qua đi.

Bảy mươi năm trôi nhanh, Đức Tôn Sư vẫn biền biệt, bảy mươi năm qua, toàn thể tín đồ của Ngài đêm đêm vẫn bùi ngùi trông ngóng, để  ước nguyện đến hội mây rồng, đời mạt hạ sẽ chấm dứt, Hội Long Hoa khai mở để dọn đường cho thờiThượng Ngươn Thánh Đức, an lạc, thái bình. Ngày đó là ngày khải hoàn để đón rước Đức Tôn sư. Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng đã từng mong mõi:


Lập rồi cái hội Long Hoa,
Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu?

(Sám Giảng Thi Văn, quyển 3)


Và như Ngài đã thấu triệt huyền cơ thời gian Thầy xa vắng tín đồ nên Ngài nói:


Thấy thiên cơ khó nỗi yên ngồi,
Thương lê thứ tới hồi khổ não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
(GMTK,tr 139)
 
Cũng như để cho thế gian đầy trầm luân khổ ải này, giờ thì chưa phân biệt ai chánh, ai tà, biết rằng :

Vì yêu dân ta kể ngọn ngành,
Khuyên lê thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết bàn là nơi cứu cánh,
Về chốn ni xa lánh hông trần.
Dầu không siêu cũng đặng về Thần.
Nhờ hai chữ trung quân ái quốc.
Chừng lập hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.(GMTK,tr 135)


Đức Giáo Chủ cũng đã viết trong quyển 2 “Kệ Dân của người khùng”:


Xưa Tây Bá thất niên Dũ lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.


Dù Tây Bá Hầu Cơ Xương xưa vẫn biết ra đi phải chịu tai nàn, bảy năm dũ lý nhưng Cơ Xương  vẫn đành cam chịu còn phận Ngài ?


Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc Tòa,

Đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng.(GMTK,tr 135)

Với lòng ngưỡng mộ thiết tha đạo giáo, tôi lại càng suy nghĩ về cảnh Niết Bàn mà Đức Giáo Chủ đã cho rằng nơi đó mới chính là cứu cánh của mọi người rèn tâm tu niệm.

Trong một đoạn khác của Sấm Giảng quyển  4 “Giác Mê Tâm Kệ” Đức Giáo Chủ cũng đã cho biết :

Ta Khùng Điên của cải chẳng màng,
Miễn lê thứ được câu hạnh phúc .
Cờ thế giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.(GMTK,tr 132)


Vì thương chúng sanh muôn loài nên Thầy tôi đành rời xa cảnh thường trụ Niết Bàn để  cứu vớt chúng sanh nhiều đau khổ. Niết Bàn phải là cái đích tối cao, để con người qui y, là nơi an lạc cho từng cá nhân, nơi hiệp đồng trụ xứ cho toàn thể chúng sanh. Nên Đức Thầy nói có Niết Bàn. Như vậy Niết Bàn không phải là nghĩa tiêu cực, hư vô mà là nghĩa tích cực, chân thật, tức là đối với vô thường là thường trụ, đối với khổ là lạc, đối với ngã là chân ngã, đối với bất tịnh là thanh tịnh, đối với hư vọng là chân thật, đối với sai biệt là bình đẳng.

Tình thương của Đức Tôn Sư lớn rộng mênh mông hơn cả vũ trụ, lòng người sao dị biệt chia rẻ không biết yêu thương nên tiếp tục tạo ra bao cảnh thảm khóc tang thương cho nhau, tiếp diễn mãi và đã làm cho bao con tim thiết tha yêu đạo kính Thầy phải tái tê xót xa thương cảm.

Hôm nay đêm 25 tháng 2 âm lịch của 70 mùa xuân ảm đạm đi qua, là 70 lần kỷ niêm để luôn nhớ trời Ba Răng xưa ủ dột mây mù, hoa lá cũng phai úa rủ sầu.Vì đêm ấy và ngàn đêm sau, người Phật Giáo Hòa Hảo, hàng triệu tín đồ của Ngài, đang gục đầu trầm tư...  vững tin chờ đợi ngày trở về của Ngài, dù có nhiều cam go ngăn trở và  trên nẻo đạo đường đời chúng con vẫn luôn nhớ lời căn dặn của ĐứcTôn Sư:

Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một Đạo đến ngày chung thân.


Thầy ơi ! Chúng sanh đang mong đợi Ngài, chúng  con đang thiết tha mong đợi ngày trở về của Thầy trong nước mắt.


Lê Yến Dung

Ngày 25/2 Al năm Đinh Dậu 2017. 

 

blank

Đức Huỳnh Giáo Chủ đi Khuyến Nông tại các tình miền Tây giúp đồng bào miền Bắc năm 1945

 

blank

Đức Huỳnh Giáo Chủ



Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.