Hôm nay,  

Con Thần Mã Seabiscuit

07/08/201710:12:00(Xem: 11005)

* “Ta đừng chỉ vì một khuyết điểm mà bỏ đi mất cả một cuộc đời.”


Con thần mã tên Seabiscuit sinh ngày 23 tháng Năm 1933, chết ngày 17 năm 1947 là con ngựa đua vô địch trong lịch sử đua ngựa của Mỹ.  Từ một con ngựa “què”, Seabiscuit bổng trở thành con ngựa vô địch và trở thành biểu tượng của hy vọng cho nhiều người Mỹ trong thời Khủng hoảng Kinh Tế.  Con Seabiscuit trở thành đề tài cho phim:  Truyện về Seabiscuit năm 1949, một quyển sách năm 2001 tên là Seabiscuit, Một Chuyện Truyền kỳ của Mỹ. và phim Seabiscuit năm 2003 [bạn có thể xem DVD này để thưởng thức sự huy hoàng của hình ảnh trong cuốn phim đầy giá trị này.- TTT] được đề cử cho giải thưởng phim ảnh Academy Award là phim có hình ảnnh đẹp nhất.  Tượng bằng đồng của Seabiscuit được dựng lên công viên ở Santa Anita Park, tb Kentucky.  

Seabiscuit sanh năm 1933, mẹ là Swing On và ngựa cha là Hard Tack.  Chữ “seabiscuit” là tên của loại bánh miếng cứng mà các thủy thủ hay ăn.  Chú ngựa con màu nâu đỏ này lớn l ên ở trang trại Lairborne, tb Kentucky, ông chủ của nó là Gadys Mills Phipps.  Con Seabiscuit khi nhỏ èo uột, đi cà nhắt, nhìn không có “tướng” gì, chỉ ăn rồi  nằm lăn ra ngủ!  Lúc khởi đầu nó được dạy bởi người huấn luyện nổi danh là Sunny Jim Fitzsimmons đã từng huấn luyện những con ngựa đoạt giải. Fitzsimmons thấy con Seabiscuit cũng có chút điểm hay nhưng cho là nó lười nên chỉ dành thì giờ huấn luyện cho con ngựa khác  đã ba lần thắng giải lớn tên Omaha. Con Seabiscuit bị loại ra chỉ được dự những cuộc đua nhỏ hơn. Nó không thắng trong mười cuộc đua đầu và chỉ lẹt đẹt về sau.  Sau đó việc huấn luyện con “ngưa què” naỳ là chuyện chẳng ai để tâm tới nữa và nó là đầu đề cho những câu chuyện chế nhạo mà thôi.  Khi được hai tuổi, con Seabiscuit ra trường đua tới ba mươi lăm lần, về nhứt được năm lần và về nhì bảy lần.  dù vậy khi cuối mùa đua nó vẫn còn bị làm con ngựa chạy phụ trong các cuộc  huấn luyện.  Trong mùa đua kế, con ngựa này vẫn không lập được thành tích gì đáng kể và người chủ nó bán cho một doanh gia xe hơi tên là Charles S. Howard với gía 8 ngàn đô la thời đó, tương đương với 100 ngàn năm 2007.  Đây không phải là một gía rẽ khiến cho Fitzsimmons nghỉ là con Seabiscuit phải có một tiềm năng nào đó và có thể trở thành một con ngựa đua chiến đúng nghĩa.  Thật ra thì con Seabiscuit đâu phải là một con ngừa “què” như Fitzmmons tưởng.  Thường thì ít có con ngựa đua hay nào chứng tỏ khả năng xuất chúng ngay từ những lần đua đầu.   

Người dạy ngựa kế là Tom Smith hiểu biết cái tiềm năng này ở Seabiscuit.  Ông dạy con ngựa bằng những phương cách “ngoài sách vở”  và dần dần đưa con Seabiscuit đạt được phong độ của nó.   Ông cho tay nài cởi người Canada có kinh nghiệm ở miền tây và ở Mexico nhưng không gặp may mắn trong nghề tên Red Pollard (1909-1981) cởi con Seabiscuit.  Ngày 22 tháng Tám năm 1936, con Seabiscuit dua lần đầu với người này mới không có gì làm mọi người để ý nhưng không lâu sau, sự tiến bộ được thấy rõ.  Trong tám lần đua kế triếp ở miền Đông, Seabiscuits và Pollard thấy được vài trận, kể cả gỉải Detroit’s Governor’s Handicap   ( $5. 600 thưởng) và giải Scarsdale Handicap ( $7,300 thưởng) tại trường đua Empire City Race ở Yonkers, tb New York. Đầu tháng Mười Một năm 1936, Howard và Smith dùng xe lửa chở con ngựa về California.  Trong hai trận cuối năm tại trường đua.   Ở sân Mateo, Seabiscuit thăng thắng được hai cuộc đua. Năm 1937 người chủ nhắm đến giải đua nổi tiếng vào tháng Hai là giải Santa Anita Handicap vớí tiền thưởng trên $125 ngàn  thời đó ( hơn 1 triệu 500 ngàn năm 2006) cho ngự thắng giải .  Trong lần chạy thử đầu tiên, Seabiscuit thắng dễ dàng nhưng bị thua ở trận nhì sau con Rosemont.  Hai tuần nữa sẽ có cuộc đua lại.  Trong cuộc đua lần này vì một con mắt của nài Pollard bị mờ nên Seabiscuit bị về sau con Rosemont trong tích tắt.  Tuy vậy sau đó nó thắng được hai trận và Howard đưa nó về phía Đông để thi nnhững trận đấu nổi tiếng hơn.

Khi về miền Đông, từ 26 tháng Sáu đến 7 tháng Bảy, nó nó thắng năm trận và sau đó thắng bảy trận cá độ.  Năm 1937, Seabiscuit thắng 11 trong 15 cuộc đua và kiếm tiền nhiều nhất trong năm đó, ớ phía tây Seabiscuit đã nổi danh như cồn.  Mỗi trận đua của nó được thính và khán gỉa cuồng nhiệt theo dõi và được kể trên hàng trăm cột báo.  Ở miền Đông này thì ít  ai “mê” Seabiscuit tới mức đó.  Về phần con ngựa đua lừng lẫy tên là War Admiral thì đã ba lần vô địch trong năm, nó còn  được bầu làm con ngựa xuất xắc ngoại hạng và được trao giài thưởng Danh Dự Eclipse của năm nữa. Ngày 19 tháng Hai  năm 198 Pollard bị té ngưạ bị gãy be sưòn và gãy chân nên phải thế người nài   tên George  Woolf. Trong suốt từ năm 1937 đến năm 1938, báo chí tryền thanh rầm rộ loan báo là sẽ có trận cá độ giữa Seabiscuit và con War Admiral. Ngày 1 tháng Mười Một năm 1938, trận đụng độ giữa Seabiscuit và War Admiral  đã thực sự xãy ra trong cuộc đua được gọi là “ Cuộc Đua của Thế Kỷ”.   Đưòng  đua dài 1 cây số 91 mét này là một cuộc đua được nhiều trông đợi nhất trong lịch sử Mỹ.  Trường đua Pimlico từ khán đài cho tới chỗ đứng vòng quanh sân đều chật cứng người hâm mộ.  Xe lửa trên toàn quốc chở người hâm mộ đến cở 40 ngàn người và khỏan 40 triệu người theo dõi trên ra- điô.  Con War Admiral là con ngựa được các tay cá độ bắt chấp thật cao so với các con ngựa khác trong mỗi cuộc nó đua.  

Thường trong cuộc đua kè sát thì con nào vượt đi trưóc ngay lúc đó sẽ giành được ưu thế và con War Admiral là con ngựa sở trường về chiêu thức này.  Còn về con Seabiscuit thì lại sở ttrường về chiêu pháp chạy từ từ lúc đầu rồi khi gần đến vòng chót nó rút thật gắt để tới mức.  Smith biết sở truờng và sở đoản của cả hai con ngựa.  Ông đã kín đáo tập con Seabiscuit bức đi nhanh bằng cách cho nó quen với  tiếng chuông rung khi khởi đầu phát xuất cuộc đua và nẹt roi liên tục để nó vụt phóng đi ngay.  Ngày đầu vì Pollard vẫn còn bị thương nên Woolf cởi con Seabiscuit ra trận,  Ngay khi tiếng chộng ra hiệu rung, Seabiscuit vượt khỏi con ngựa vô địch rồi sau đó tuy bị dạt ra ngoài, Woolf lượt lên trong 20 giây sau đó.  Ở nữa đường chạy con War Admiral lại dẫn đầu ngang với con Seabiscuit rồi nhích lên khỏi một chút.  Theo lời chỉ của Pollard, Woolf ghìm con Seabiscuit lại một chút để cho nó thấy đối phương đang chạy kế mình rồi thúc nó tăng tốc độ,  Khi còn hai trăm yards tới mức đến, nó rút thêm nữa và cứ tiếp tục dẫn đầu và đến mức hơn đối phương đến bốn quảng cách. Thắng con War Admiral ở trận này, Seabiscuit được mệnh danh là “Con Ngựa Trong Năm” của năm 1938.  

Trong khi chạy ở một cuộc đua con Seabiscuit bị ngã qụy.  Nài cởi Woolf tưởng rằng nó chỉ bị vấp ngã rồi tiếp tục chạy được.  Chấn thương này tuy không nguy hiểm đến tính mạng nó nhưng gân chân trái phía trước bị đứt.  Nhiều người đoán rằng nó sẽ không còn đua được nữa.  Ít lâu sau Pollard và Seabiscuit từ từ bình phục tại trang trại của Howard.  Nhờ bác sĩ chửa trị, chân của Red (tức là Pollard) từ từ chắc lại.  Red kẹp một thanh nẹp cứng vô cái chân bị thương để từ từ  tập cởi  con Seabiscuit trong  sự lo ngại c ủa Howard.  

Suốt mùa thu và đông năm 1939 tìng trạng sức khoẻ của Seabiscuit cải thiện ngày một.  Đến cuối 1939, Smith làm trái lại với lời khuyên của viên thú y để nó ra trường đua do Pollard cởi sau khi nhiêu lần nài nỉ vớí Howard là chân mình đã cứng lại .  Đến lần đua thứ ba thì con Seabiscuit lên được hạng nhất.  Chỉ còn một trận đua chót nữa gìữa con Kayak I I và con Seabiscuit để tranh giải Santa Anita Handicap với số tiền thưởng là 121 ngàn (thời ấy).  Con sồ người xem để ủng hộ con Seabiscuit vào ngày đua lên đến 78 ngàn người làm chật cứng cả trường đua.   Trận đua khởi đầu bất lợi cho Pollard vì bị mấy con ngực khác cản đường.  Dần dần con Seabiscuit lướt qua được nhưng rồi bị lùi xuống thứ ba, sau hai con Whichcee và Wedding Call chạy bên phía ngoài.  Tin chắc vào nước rút của con ngựa mình, Pollard lướt sát giữa hai con kia và bức lên chạy đầu.  Rồi  Seabiscuit rút nước đại bỏ lại hai con kia để vưt qua con dẩn  trước là Hundred Grander và thắng cuộc.  

Khán giả lúc đó trở nên như điên cuổng.  Không cách chi xen lọt được hàng rào người dày đặc để có thể  đến gần được con thần mã và ngươì nài cởi  Red Pollard, “tri kỹ” của nó.

Ngày 10 tháng Tư, Seabiscuit chính thức từ bỏ trường đua và về trang trại Ridgewood Ranh của Howard , tb California.  Seabiscuit là con ngực đua đã dẫn đầu mọi thời về tiền thưởng thắng cuộc cao nhất.  Nó để giống cho 108 ngựa con.  Hơn 50 ngàn khách thăm đến trang trại Ridgewood để xem Seabiscuit trong bảy  năm trước khi con ngựa chết.  Gia đìng Howard giữ bí mật chỗ chôn nó.  Ngày 23 tháng Sáu năm 2007 tượng kỷ niệm của Seabiscuit được khánh thành nơi trang trại ở Ridgewood, nơi an nghỉ vỉnh viển của nó.  

Seabiscuit đã chứng minh được lời của Smith khi nhìn ra  cái hay  của nó để nhận xét về bài học sống ở đời  là: “ Ta đừng chỉ vì một khuyết điểm mà bỏ mất cả một cuộc đời.” . /.


-  Lacey, một chiều thứ Bảy, tháng Tư năm 2010

 

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.