Hôm nay,  

Từ Bỏ Chốn Phồn Hoa

6/19/201800:00:00(View: 5283)
TT Thành, WA

 
Mỗi khi đài KBTC 9 ở tiều bang tôi sống chiếu lại phim phóng sự của cựu sĩ quan hải quân Mỹ tên Dick Proenneke từ bỏ cuộc sống hào nhoáng ở đô thị để lên sống một mình hơn hai mươi năm ở một nơi hẻo lánh trên Alaska trong lòng tôi lại dâng lên niềm khâm phục và ao ước được như ông.

Hình như hiện nay ít người trong chúng ta có thể sống thiếu những tiện nghi vật chất, thiếu cell phone, thiếu TV, thiếu internet. Đó là những nhu cầu cần có trong cuộc sống ở thế kỷ thứ hai mươi mốt này.  Những nhu cầu đó cầu đó cần thiết cho giới trẻ mà hình như cho cả luôn thế hệ đã về chiều.  Ít có vị khá cao niên nào lại không mở tv hay vô internet, bắt phone nghe trong một ngày.  Rồi những “cuộc tấn công dồn dập” của thế giới siêu -tin- học hiện tại làm cho đa số chúng ta mất đi sự tự chủ trong nột tâm. Hình như là chúng ta “có tất cả nhưng lại thấy thiếu tất cả”.

Moị thứ được chế tạo sẵn để phục vụ nhu cầu của mình.  Cứ bật nút máy computer, mở phone, gọi điện thoại là chúng ta có ngay những thứ mình cần, hay đúng hơn những thứ mình “muốn” hơn là “cần”.   Niềm vui sướùng  hình như là do bên ngoài tạo đến cho ta chứ ta không tự tạo cho mình có được.  Tất cả những tấn công liên tục như vậy từ thế giới bên ngoài làm ta thấy “mình không còn là mình nữa.”  Chúng ta tự hỏi mình đang sống cuộc đời của ai đây!?  Trong tâm trạng đó ông Dick Proennenke đã từ bỏ chốn phồn hoa.

Ông quyết định bỏ lại tất cả của cải vật chất, chuyến phi cơ nhỏ của người bạn chở ông đi đến địa điểm “định cư” ở gần một cái hồ có phong cảnh thật đẹp.  Ông chỉ mang theo những vật dụng cần thiết cho đời sống hằng ngày và những dụng cụ, vật dụng  căn bản trong nghề mộc để tự mình tạo dựng một cuộc sống từ số không nơi một miền hoang dã ở Alaska.  Bắt đầu từ lúc này người xem mới thấy tài khéo léo sáng tạo và niềm vui sướng không gì sánh được của một “bậc thức giả” thời văn minh quá độ này.   Việc trước tiên là ông cất cho mình một cái nhà để che mưa, che tuyết tronh khi tạm ở trong cái lều nhỏ.

Sau khi chọn chỗ và san bằng khu đất cho nền nhà. Ông cưa hạ một số cây lớn tại chỗ, sau khi cạo sạch vỏ cây, ông dùng thế để tự dựng lên mấy cây cột cái.  Với kiến thức kỹ thuật vững chắc sẵn có và những dụng cụ đo đạc đã mang theo, ông hoàn thành một cách chính xác.  Với chiếc xuồng nhỏ được mang theo, ông đã chèo qua khu rừng bên kia để lựa chọn và đốn một số cây cần để làm mái nhà.  Hạ cây đủ, ông gọt vỏ cây tại chỗ, cột lại  thành từng bó để vác ra xuồng chở về.  Sau nhiền ngàu do đạc và lắp đóng, ông đã hoàn thành được căn nhà gỗ có cửa sổ nhìn ra phong cảnh thật vô cùng đệp ngoài hồ.  Kế đến là một cái lò sưởi để giữ ấm cho mùa đông.  Ông đã lượm nhặt và tích lũy những hòn đá cuội trong nnững chuyến đi đốn cây chở về và với xi măng được chở theo, ông đã xây cái lò sưởi thật chắc chắn và hoạt động hữu hiệu cho mùa đông cực lạnh ở độ âm nơi vùng Cực Bắc này.  Với những khúc cây khô sau khi được bửa ra ông khoan khoái ngồi nhìn ngọn lửa ấm hồng cháy reo vui trong lò sưởi. Ông tìm những mẩu cây thích hợp để cạo sạch gọt nhẵn làm thành những cái muỗng, chén để dùng trong bữa ăn hằng ngày.  Cá tươi ư?  Đã có cái hồ bên cạnh.  Thịt ư?   Ở đây nai, hoản không thiếu gì.  Mứt ư? Ông đi hái những dâu dại ở rừng về nấu lại bỏ vào keo lọ để ăn lâu ngày với bánh mì khô.  Để chứa và giữ lâu thức ăn kiếm được, ông đã cất một cái chòi cao để trử lương thực tránh bị thú rừng ăn cắp.  Những thực phẩm tươi thì ông cho vào cái hộp giữ lạnh được đào âm dưới đất có nắp đậy kỹ càng.


Trong những lần đi thám thính địa hình chung quanh, ông được caí thú hưởng phong cảnh tuyệt vời của bốn mùa  xuân, hạ, thu , đông nơi miền giá lạnh Alaska torng những khi quan sát sinh hoạt thiên nhiên của chú nai, gia đình gấu , thưởng thức những chùm dâu rừng tinh sạnh nơi mé rừng.  Hưởng cái thú bơi chiếc xuồng con  trên mặt hồ yên lặng phẳng như mặt gương trong cảnh thật vô cùng đầy thanh nhàn và u tịch. Rồi những buổi sáng bình minh hay vào những buổi chiếu tà, ông ngồi trong căn nhà gỗ nhìn ra khung cữa sổ để hưởng cảnh huy hoàng của thiên nhiên để đưa tâm hồn mình nhập vào cỏi Vô Biên.

Trời với nước tuy là hai mà một

một mình ta với chiếc thuyền con

trong tỉnh  lặng ta hoà mình vào Đại Ngã.

Tối nào ông cũng có thói quen ghi vào nhựt ký những gì xảy ra trong ngày.  Nhờ vậy mà ta có được từng chi tiết về cuộc sống của ông hơn hai mười năm nơi này.  Có theo dõi nhiếu lần cuốn phim phóng sự này ta mới thấy khâm phục tài mưu sinh, tự lực và chủ động trong cuộc sống “ẩn dật” của ông.  Trong hơn hai mươi năm trời đó ông không hề tiếp xúc với ai ngoài thiên nhiên và thú rừng.  Tuy vậy ông vẫn tạo đuợc cho mình một cuộc sống thật là tiện nghi với những vật liệu từ thiên nhiên.  Ông không cần bác sĩ nào để chăm sóc mình vì tinh thần của ông lúc nào cũng thanh thản trong một thân thể tráng kiện.  Ta thường mang một hình ảnh đầy khổ hạnh với ngoại diện dị hình của một “ẩn sĩ” nhưng ngược lại, ông là một ẩn sĩ đi tìm sự An Lạc với chính bàn tay và khối óc của mình.  Tuy đây là một lối sống không nhằm tìm đến cỏi Niết Bàn cao xa nhưng nó vận dụng những gì Thượng Đế ban cho con người và với khối óc và bàn tay ông Proenneke đã đạt đuợc cái Hạnh Phúc, tìm được Sự An Vững Tinh Thần bằng  một cách thực tiển và đầy thực tế ở mỗi ngày trong cuộc sống ẩn dật của mình.

Ông sống như vậy hơn hai mười năm và sau đó vì tuổi già không chống lại được cái lạnh qúa mức ông đã rời “Thiên Đường ở cỏi  thế” của mình.  Ông đã tặng lại căn nhà cho chính phủ đaị phương và đã được chất thuận coi  như là một “di tích thắng cảnh” để hằng năm du khác đến viếng để chứng kiến và ngưởng mộ nơi một của con người đã “ngộ” và đã biến nơi hoang vu này thành một Niết Bàn ở cõi thế.

 Giá trị của một cuộc sống tìm về với thiên nhiên và để trở về với nội tâm của mình quả thật là hiếm quý ở thế kỹ thứ thứ hai mươi mốt này.  Có lẽ chúng ta đều muốn như vậy nhưng ít có ai có can đảm làm được như vậy. Thực ra có phải là phần thưởng ở đới này là chỉ dành cho những ai biết từ bỏ cái giả để tìm về với cái thật.  Rồi không những khi ta tìm được cái thật và hưởng cái thật mà ta còn mở cho người khác thấy được con đường đi đến cái thật là có, là có thể đạt được và nhờ đó mà biết đâu sẽ có những người sẽ mạnh dạn tiến bước đi tìm Chân Hạnh Phúc?  Thì ra cỏi Niết Bàn và miền Cực Lạc ở ngay trong cõi thế này và ta cũng có thề hưởng đươc chứ cần gì chờ cho đến khi từ bỏ cuộc đời này phải không thưa bạn./.                       

- Viết từ cuốn DVD “Alone in the Wilderness”- KBT Channel, WA - 10.12.12

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.