Hôm nay,  

NHẬN DIỆN LICH SỬ

01/05/201909:42:00(Xem: 12224)
NHẬN DIỆN LICH SỬ
 
Đào Như

 

 

 blank

  

Ngày này tháng này năm 1975 Trung Tá bác Sỹ Hoàng Như Tùng, bệnh viện trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản-Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biệt Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sỹ quan bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sỹ Tùng nhận diện tướng Nguyễn Khoa Nam.

 

 Viên thiếu tá bộ đội cộng sản, cúi xuống, nghiêm chỉnh dỡ vành khăng trắng che mặt Tướng Nguyễn Khoa Nam. Gương mặt Tướng Nguyễn Khoa Nam hiện ra trông hiên ngang lạ thường: cầm dưới của ông ngẩng lên cao, Tướng Nam mặc nguyên bộ đồ trận còn thẳng nếp, với cầu vai mang đủ phù hiêu cấp tướng của Quân Đội Viêt Nam Công Hòa, trên ngưc trái vẫn giữ nguyên Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh, cùng nhiều huy chương Quân sự, Dân sự và nước ngoài. Hai chân của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn nguyên đôi giầy trận .

 Bác sỹ Hoàng Như Tùng bậm môi, vai run khi cúi xuống ký biên bản nhân diện Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Tên Thiếu tá bộ đội cộng sản, trong tư thế nghiêm trang, đưa tay nhận bản nhận diện từ tay bác sỹ Hoàng Như Tùng.

Sau một hồi trao đổi rất ngắn với tên Thiếu Tá bộ đội cộng sản, bác sỹ Hoàng Như Tùng đưa ra lời yêu cầu: Xin chính phủ cách mạng mai táng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trong quan tài theo đúng nghi cách. Tên thiếu tá bộ đội cộng sản nghiêm túc đáp lại: chúng tôi xin ghi nhận lòi yêu cầu của bác sĩ và sẽ chuyển lên cấp trên. Hy vong lời yêu cầu của bác sĩ sẽ được chuẩn thuận.

Chợt một chiến binh công sản, trông chừng 17, 18 tuổi, đội nón tai bèo, mang súng AK, tiến đến đá vào đôi giầy trận của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và nói to bằng giọng Băc Kỳ: tên ngụy quân này chỉ xứng đáng chôn truồng. Câu phát biểu của anh ta rơi vào khoảng không, không được một sĩ quan cách mang nào chú ý, vì họ đang bận quan tâm đến lời yêu cầu của bác sĩ Hoàng Như Tùng.

 

Vào khoảng mấy tháng sau, trong một buổi giao ban của khoa ngoại của binh viên Đa khoa Hâu Giang, Bác sĩ cách mạng Nguyễn Văn Ngôn, bác sĩ trưởng đầu ngành khoa ngoại của binh viện,  lên tiếng ca ngợi sự tuẫn tiết của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, người biết bảo vệ sinh mang các Chiến sĩ Viêt Nam và đồng bào. Đáp lại sự tuẫn tiết của ông, bác sĩ Nguyên văn Ngôn cho biết Nhà nước cách mạng đã mai táng ông trong quan tài rất chu đáo.

 

Lạ thay, sau lần phát biểu này, bác sĩ Nguyễn Văn Ngôn bị đảng ủy của bịnh viện yêu cầu viết bài tự phê  và kiểm điểm vì bác sĩ Ngôn đã tiết lộ môt điều cấm kị mà chinh phủ cách mạng không muốn cho dân chúng hay biết về việc Tướng Nguyễn Khoa Nam được chính phủ cách mạng mai táng trong quan tài. Việc đảng ủy của bịnh viện kiểm điểm bác sĩ Nguyễn Văn Ngôn phản ảnh bộ mặt thật của chuyên chính vô sản. Chế độ cộng sản luôn nắm giữ độc tài sự thật lịch sử, để sau đó họ có thể bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử chỉ vì lợi ích của đảng cộng sản.

 

Trong một buổi họp Điều Trị Tâm Thần Tâp Thể (Group Therapy) tai Chicago vào năm 1996, Trung tá Lâm Quang Bạch, Trưởng phòng Chiến Tranh Chính trị Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4, sĩ quan tham mưu của tướng Nguyễn Khoa Nam, đã miêu tả sự tuẫn tiết của tướng Nguyễn Khoa Nam qua một tư liệu của ông viết riêng về Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, một vị chỉ huy trưc tiếp của ông. Trung tá Lâm Quang Bạch kể như sau tại buổi họp điều trị tâm thần tâp thể hôm đó:

 

   “ Tình hình chiến sự thuộc lãnh thổ Quân Khu 4 vào những ngày cuối tháng Tư bảy lăm nói chung và thành phố Cần Thơ nơi đăt bản doanh Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4, nói riêng tương đối yên tỉnh so với tình hình các tỉnh miền Đông thuộc Quân Khu 3 và Biệt khu Thủ đô, nơi đặt bản doanh  của Chính phủ Trung Ương Saigon. Nhất là sau vụ Tướng Nguyễn Khoa Nam đích thân chỉ huy các đơn vị thống thuộc đánh bại và vô hiệu hóa hoàn toàn hỏa lực của Trung Đoàn Chủ Lực Miền”Hậu Giang” của cộng sản khi Trung Đoàn này xâm nhập và tiến sát vào vòng đai phòng thủ của phi trường quân sự Trà Nóc-Cần Thơ

    Sáng ngày 29-4-75 Bộ Tư Lênh Quân Đoàn 4 triệu tập một cuộc họp quan trọng để duyêt xét lại tình hình và ra phương án phản công mới, dưới sự chủ tọa của của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4. Thành phần tham dự buổi họp gồm có: Tư Lệnh, Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Phó, các sĩ quan Trưởng Phòng trong bộ tham mưu của Quân Đoàn 4, ngoại trừ hai sỹ quan cao cấp của Quân Đoàn, một cấp Chuẩn Tướng Tham Mưu Trưởng và một cấp Đại Tá Trưởng Phòng 2-Quân Đội đã tẩu thoát ra nước ngoài là không tham dự phiên họp này. Cuộc họp tuy ngắn nhưng trang nghiêm và hết sức nghiêm trọng. Các Đơn vị trong Quân Đoàn 4 thề “Kiên quyết và đoàn kết sau lưng vị Tư Lệnh và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tử thủ Vùng 4 ”…

 

Sáng ngày 30-4-75 vào lúc 10:25  Tổng THống Dương Văn Minh lên đài phát thanh Saigon kêu gọi toàn thể quân đội và các tướng lãnh chỉ huy các Quân Đoàn, Sư Đoàn trên toàn lãnh thổ miền Nam, phải buông vũ khí, ngưng chiến đấu và chờ bàn giao cho chính quyền cách mạng. Thế là một quân đoàn hùng mạnh như Quân Đoàn 4, tới giờ phút này vẫn nắm vững tay súng, chủ động trên mọi tư thế chiến đấu  và phản công, đang giữ vững miền châu thổ sông Cửu Long, sắp phải tan rã.

 

Tướng Nguyễn Khoa Nam, một quân nhân chuyên nghiệp, ông phải tuân mệnh lệnh thượng cấp, nhất là vị thượng cấp này là Tổng thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh  Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa., vị chỉ huy trực tiếp của ông.

 Một số sỹ quan phục vụ trong Bộ Tham Mưu, của Quân Đoàn 4, kể cả tôi, quá chán nãn tự rời bỏ đơn vị , về sum họp với gia đình và chờ ngày vào tù. Một số khác tìm đường tẩu thoát ra nước ngoài, vì họ sợ công sản trả thù. Trong bối cảnh này chỉ còn lại một mình Thiếu Tướng Nguyễn KHoa Nam, Tư Lệnh và Thiếu Tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Phó, và một số sĩ quan thân cận ở lại doanh trại của Bộ Tư Lệnh  của Quân Đoàn

 Tướng Nguyễn Khoa Nam, một tướng lãnh ưu tú, sống độc thân, ăn trường chay, thanh bạch, một đời ông cống hiến cho binh nghiệp, tận tụy với quân đội.

 

Chiều ngày 30 tháng Tư 75, cộng sản đưa người của họ là Tám Thạch, mang quân hàm thiếu tá trung đoàn trưởng, qua trung gian của Nguyễn Khoa Lai, em thúc bá của Tướng Nam, Thiếu tá bác sĩ Quân Đội Viêt Nam Công Hòa và đai úy bác sĩ Đoàn Văn Tựu, y sỹ trưởng Tiểu đoàn 40, Chiến Tranh Chính Trị, hiện trú đóng tại Bình Thủy, Cần Thơ, vào tiếp xúc với Tướng Nam tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 đồn trú trên đai lộ Hòa Bình, thành phố Cần Thơ. Nội dung cuôc tiếp xúc cấp nhỏ như chúng tôi không ai được biết ngoai trừ Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lênh Phó được Tướng Tư Lệnh bàn bạc và thông báo riêng. Thiếu Tướng Hưng trở về tư dinh và tự sát sau đó.

Sau khi cân nhắc mọi hậu quả có thể xảy đến cho đồng bào và chiến sĩ trong vùng lãnh thổ, Tướng Hưng và Tướng Nguyễn Khoa Nam tuần tự đi đến quyết định tuẫn tiết.

Sự tuẫn tiết của hai vị Tương Lãnh, Tư Lênh và Tư Lệnh Phó của chúng ta, Tướng Nguyễn Khoa Nam và Tướng Lê Văn Hưng là những quyết định kiên cường và dũng cảm mãi mãi được tuyên dương và ghi công, đời đời được lịch sử soi sáng “ … (*)

 

Hôm nay ngày 1 tháng 5 năm 2019, đúng sau 44 năm Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4 Chiến Thuật, tại Cần Thơ, tôi mạo muội ghi lại những điểm son của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn lịch sử khốc liêt này, với hy vọng 100 năm, 200 năm sau sẽ có sử gia nào đó có đủ can đảm và khả năng nghiêng mình xuống tim hiểu viết lại trung thực những hồi bi tráng này của lich sử dân tôc ta./.

 

Đào Như

Bác sĩ Đào Trọng Thể

Chicago-Sáng ngày 1 tháng 5 năm 2019

Đúng 44 năm sau ngày Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết.

 

(*) Đây là nguyên văn bức thư  của Trung Tá Lâm Quang Bạch đưa cho tác giả sau buổi điều trị tâm thần tập thể (Group Therapy) hôm ấy.

 

 


 
 

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.