Hôm nay,  

Tiếng Mẹ Cười

27/08/202009:17:00(Xem: 6372)

Tran Kiem DoanHình minh họa

 

 

Vu Lan về…

Vu Lan cũng như Giáng Sinh, không còn là ngày lễ riêng tôn giáo.  Đó là những dấu son thời gian của nhân văn ghi đậm nét cảm xúc của con người. Nếu Giáng Sinh là ngày lễ của Ân Tình thì Vu Lan là ngày lễ Nhớ Mẹ.

Cũng như mọi năm, Vu Lan là ngày mới hồi sinh của một chuỗi dài dấu ấn tinh thần đã cũ. Các bậc tu hành Phật giáo xuống lại cuộc đời sau mùa An Cư Kiết Hạ. Nhưng năm nay Mùa An Cư Kiết Hạ truyền thống của Phật giáo trùng hợp ngẫu nhiên mà đồng thời vời mùa đại dịch Cô Vy phải cách ly. Có điều khác nhau giữa dòng đời trôi chảy triền miên và biến cố nhất thời là các nhà tu Phật giáo đã “ra Hạ” mà cả nhân loại thì vẫn còn xao xác chuyện cách ly!

Hơn trăm ngày cách ly vì đại dịch Covid-19, bạn đã suy gẫm điều gì hay nhất. Xin đừng nghi ngại. Khái niệm “hay” của con chim sơn ca là tiếng hót cao ngất trời xanh nhưng với con dế mèn là tiếng kêu tỉ tê âm thầm trong bóng tối. Ý nghĩ riêng về cái hay mà tôi đã quán tưởng trong những ngày cách ly là tiếng cười của Mẹ.

Trong thiên nhiên xa vời và nếp sống hiện thực thì tiếng cười là sản phẩm diệu kỳ và quý hiếm nhất của đất trời. Tiếng cười cũng như khí trời và hơi thở, lúc nào và nơi nào chẳng có mà lại liệt vào hàng quý hiếm?! Gần triệu người đã ra đi vì bị Coronavirus ngăn hơi thở và bảy tỷ người đang ưu tư nếu một mai mình… khó thở rồi đi vào hết thở! Nụ cười thì nghiêm trọng hơn vì khi con người hết nụ cười là chết lâm sàng ngay trong cuộc sống.

Mọi sinh vật có sống, biết ăn, biết ngủ mà không biết cười. Ngựa hí có thể là ngựa cười mà biết đâu là đang khóc. Gà gáy, chó sủa, mèo kêu, bò rống… là đang cười chăng? Không đâu. Chỉ có con người bình thường, khỏe mạnh và hiện sinh tự tại mới biết cười.

Thằng Vui Điên ở Huế mấy mươi năm chạy rông, miệng lúc nào cũng ngỡ như cười nhưng chẳng ai biết thật ra là nó đang la khóc hay kêu cứu. Cái mất đầu tiên và lớn nhất của đời người là nụ cười. Chỉ có khi thân an không bệnh tật, tâm lạc không buồn hay vui quá độ người ta mới thật có nụ cười trọn vẹn chân thật, nụ cười tỏa chiếu lòng vui. Nhân gian có muôn vàn cách cười, vô số cảnh cười nhưng chỉ có Tiếng Mẹ Cười là nụ cười Trung Đạo nhất. Tiếng Mẹ Cười không phát xuất từ bờ nầy hay mé nọ; không cần phải được hay thua mà tất cả hội tụ vào lòng thương con không bờ bến. Mẹ cười khi đau để vỗ về, khi buồn để an ủi, khi no để an lòng, khi đói để chịu đựng, khi thành công để chia sẻ, khi thất bại để không bỏ cuộc. Tiếng Mẹ Cười cho con, vì con tự nhiên mà thiêng liêng như hồn Đại Ngã. Cho nên, nghĩ về Mẹ đầu tiên là Tiếng Mẹ Cười.

            Gần 50 năm, tôi chưa bao giờ tách dòng suy nghĩ của mình về Mẹ để nhận diện Tiếng Mẹ Cười. Lớn lên, trưởng thành và tương tác giữa quê hương, làng nước, xóm nghèo qua những cảnh chiến tranh, hòa bình và ly tán, tôi chưa hề nghĩ đến Tiếng Cười của Mẹ vì Mẹ là hiện thân của tiếng cười bồng ẵm đời tôi tự nhiên như hơi thở. Cho đến khi tôi xa Mẹ lúc người 80 và biền biệt 10 năm trở về thăm Mẹ ở tuổi 90 vào năm 1992, tôi mới chững lại khi nhảy chân sáo trở về làng với Mẹ. Mẹ đó. Tóc mẹ bạc đi nhiều với khuôn mặt an tịnh không biểu tỏ vui buồn và đôi mắt ươn ướt tuổi già không khác nhiều lắm như ngày tôi ra đi. Khác chăng là trí nhớ Mẹ như lẫn trong sương mù. Mẹ hỏi tôi và các cháu thản nhiên như người trong nhà không có 10 năm xa cách.  Có một khung trời vắng bóng nơi Mẹ mà tôi chưa tìm ra: Nụ cười.  “Phải rồi, tiếng cười của Mạ mô rồi”. Cái vắng lặng đau nhói hiện ra nhỏ và mơ hồ như sợi tóc lớn dần. Tôi hoảng sợ. Mẹ ngồi đó nhìn tôi đăm đăm. Nhưng cái nhìn nội chiếu của chặng đời quá khứ. Trên khuôn mặt Mẹ đã hoàn toàn vắng bặt nụ cười. Mạ ơi! Con đã về với Mạ nhưng con đã vĩnh viễn xa khuất Tiếng Mạ Cười… Nửa năm sau ngày về thăm Mẹ, lúc nửa đêm về sáng ở Cali, tôi choàng thức giấc nhận tin điện thoại từ anh Thiện báo tin Mẹ tôi đã qua đời.

            Câu mở đầu trong tập sách Về Huế xuất bản sau ngày tôi về thăm Mẹ là: “ Mạ ơi! Nếu có kiếp lai sinh, con chỉ xin được làm con của Mạ.”

            Quê nghèo, chiến tranh, phân ly đã tạo ra những khúc quanh tâm lý và tình cảm khiến đời sống xã hội Việt Nam nhuộm tím trong cảnh hợp tan và thương tiếc. Người Mẹ Việt Nam – nhất là những bà Mẹ Quê – trở thành biểu tượng của hy sinh và tình thương con không bờ bến. Và đối với những người con Việt Nam nhân hậu thì tình thương Mẹ cũng sẽ không bao giờ đổi thay theo hoàn cảnh hay phai nhạt với thời gian.

            Trong nghệ thuật thi ca, âm nhạc, hội họa, sân khấu Việt Nam, cảm xúc về Mẹ cũng trùng trùng khơi nguồn trong diễn xuất và sáng tạo. Trong dòng cảm xúc riêng mình thì Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười của Trần Trung Đạo, là bài thơ tiếng Việt mà riêng tôi cảm nhận là hay nhất về Mẹ trong vườn thơ Hải ngoại:

 

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

 

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

 

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

 

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

 

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

 

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

 

                           Trần Trung Đạo

 

Tiếng Mẹ Cười là biểu tượng của tình yêu, che chở, gieo neo, hy sinh vô bờ bến nghìn thu vĩnh cửu đối với con. Biểu tượng tình cảm cao vời và sâu thẳm của Mẹ dành cho con mà sau mười năm xa Mẹ khi trở về tôi không còn hạnh phúc có được. Tiếng Mẹ Cười ngỡ như tầm thường vì ở đâu, ngày nào và ai ai cũng có như ánh nắng, như hơi thở. Chỉ đến khi mặt trời đã lặn; thở ra mà không còn thở vào thì đã trễ tràng cho ai về muộn hay mất dấu đời đời giữa dòng sinh diệt.

Thương Mẹ, chăm sóc Mẹ, có hiếu với Mẹ để thấy được Tiếng Mẹ Cười là tìm được một bầu trời tươi mát yêu thương và từ đó, tìm được nguồn suối yêu thương mà nương tựa cho mình.

Mùa Vu Lan đang về. Năm nay có thể không có bông hồng đỏ, bông hồng trắng, bông hồng vàng (tu sĩ) gắn lên áo để nhớ Mẹ. Ai còn Mẹ, xa Mẹ, hay mồ côi Mẹ đều có thể nhắm mắt hình dung hình tượng giữa cuộc đời hay trong tâm tưởng đẹp hơn cả đóa hoa hồng: Tiếng Mẹ Cười.

 

Sacramento, Cali Mùa Vu Lan 2020

Trần Kiêm Đoàn

 

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.