Hôm nay,  

Sự lãng quên

10/11/202300:00:00(Xem: 4536)
su lang quen
 
Tuy lịch sử không nói đến, nhưng nếu chịu khó lục lọi đây đó, người ta sẽ tìm ra một giai thoại khá thú vị về việc bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trong buổi lễ trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945. Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà trên báo Cứu Quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang là người đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ Lâm thời cùng chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban Tổ chức Lễ đài, ông chính là người đứng trước micro giới thiệu: “Thưa đồng bào... Đây là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh.” Nói xong, ông lùi lại, nhường micro cho Hồ Chí Minh.
    Bức ảnh chụp ông Hồ đọc bản tuyên ngôn có Nguyễn Hữu Đang đứng ngay sau lưng. Có lẽ đó là bức ảnh được truyền bá sâu rộng nhất trong nước vào thời điểm đó, trên báo chí cho quần chúng đọc, trên sách vở cho học sinh, sinh viên học hành, trên tài liệu cho cán bộ, quân nhân học tập, v.v… Nhưng, hơn mười năm sau đó, sau khi ông Nguyễn Hữu Đang và nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm bị đảng trù giập không thương tiếc, bản thân ông bị tống cổ vào tù, thì hình ảnh ông đứng sau lưng Hồ Chí Minh bị tẩy xóa (rất tinh vi). Từ lúc đó trở về sau, bức ảnh Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập không có Nguyễn Hữu Đang.
    Cũng vào quãng thời gian này, một chuyện tương tự xảy ra bên trời Tây, sau Đệ nhị Thế chiến, chính xác là tại Tiệp Khắc, một quốc gia phiên thuộc của đế quốc Xô Viết. Chuyện này được nhà văn Milan Kundera [1929-2023] thuật lại trong cuốn tiểu thuyết Tập sách cái cười và sự lãng quên của ông, một tác phẩm quan trọng đã đưa tên tuổi ông lên hàng nhà văn tầm vóc quốc tế vào cuối thế kỷ XX. Ông viết như nhau:
    “Tháng Hai năm 1948, lãnh tụ Cộng sản Klement Gottwald bước ra bao lơn tòa dinh thự xây từ thời Baroque thủ đô Praha để hiệu triệu hàng trăm nghìn công dân đứng chật ních dưới quảng trường Phố Cổ. Đó là khúc quành trọng đại của lịch sử Bohemia – một thời khắc định mệnh.
    Đứng cạnh Gottwald là các đồng chí của ông, Clementis gần nhất, ngay bên cạnh. Tuyết rơi tầm tã, trời se sắt lạnh, và Gottwald để đầu trần. Thấy vậy Clementis ân cần lấy mũ của mình đội lên đầu Gottwald.
    Cơ quan tuyên truyền của đảng in ra hàng trăm nghìn bức ảnh Gottwald đứng trên bao lơn, mũ lông thú trên đầu, các đồng chí đứng bên cạnh, nói chuyện với quốc dân. Lịch sử xứ Bohemia Cộng sản khởi đi từ cái bao lơn đó. Qua bích chương, sách vở, bảo tàng viện, đứa trẻ nào cũng biết rõ bức ảnh.
    Bốn năm sau họ khép Clementis vào tội phản quốc và đem ông ra treo cổ. Ngay tức khắc cơ quan tuyên truyền của đảng bôi xóa ông khỏi lịch sử và, dĩ nhiên, ra khỏi tất cả những hình ảnh họ công bố trước đây. Từ lúc đó trở đi, Gottwald đứng một mình trên bao lơn.
    Nơi Clementis đứng giờ đây chỉ còn lại bức tường trơ trọi của tòa dinh thự. Clementis hoàn toàn tan biến, chẳng còn lại gì, ngoại trừ cái mũ lông thú trên đầu Gottwald.”
   Đảng Cộng sản Việt Nam xóa ảnh Nguyễn Hữu Đang đứng sau lưng Hồ Chí Minh, họ còn xóa những hình ảnh kinh hoàng của biến cố Tết Mậu Thân 1968 thảm khốc ra khỏi lịch sử. Trong chiến tranh, quân lính hai bên chém giết nhau là chuyện có thể chấp nhận, con người từ lâu vốn tự đặt ra quy luật bất thành văn như thế, nhưng giết người già, em bé vô tội – không phải một vài người mà hàng ngàn người – không chút vũ khí tự vệ trong tay là tội ác chiến tranh, là sát nhân. Biết như thế, người Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá, mọi cách, phải xóa bức ảnh thảm đát, ghê rợn đó ra khỏi lịch sử.
 
***
 
Nguyễn Hữu Đang của Việt Nam và Clementis của Tiệp Khắc, nạn nhân Mậu Thân 1968, bây giờ chỉ còn là những bóng ma, bóng ma quá khứ. Chỉ bóng ma mới có thể hiện ra và tan biến không để lại hình tích gì trên một bức ảnh, và bởi vì là bóng ma nên nó chỉ làm được một việc duy nhất là hù dọa trẻ nít và những kẻ yếu bóng vía. Nó chẳng làm được gì cho lịch sử. Lịch sử gạt nó ra ngoài lề, nếu ta hiểu lịch sử đồng nghĩa với quyền lực.
   Những bóng ma ấy, và vô vàn những bóng ma khác, sẽ dần dà trôi vào miền quên lãng. Sự hiện hữu của chúng là một nghi vấn, và trí óc con người luôn luôn sẵn sàng biến nghi vấn thành sự lãng quên.
    Sự lãng quên có ý nghĩa về mặt nhận thức, vì nó liên quan đến những gì chúng ta có thể biết và cách thế chúng ta biện minh cho niềm tin của mình. Nó cũng có thể liên quan đến chủ nghĩa hoài nghi trong triết học, đặc biệt trong ngữ cảnh của chủ nghĩa hoài nghi thế giới ngoại tại. Nếu chúng ta quên đi những trải nghiệm hoặc tri thức nhận thức trước đây, điều đó có thể đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của các giác quan và khả năng nhận thức thế giới bên ngoài. Triết gia Friedrich Nietzsche có một quan điểm thú vị về sự lãng quên. Ông lập luận rằng quên không chỉ là sự suy giảm trí nhớ mà là một khía cạnh cần thiết của ý chí quyền lực và sự tự khẳng định. Ông tin rằng các cá nhân cần quên đi những trải nghiệm và giá trị trong quá khứ để tạo ra những cái mới và khẳng định bản sắc riêng của mình. Khái niệm về sự lãng quên cũng có thể liên quan đến bản sắc cá nhân trong bối cảnh triết lý của tâm trí. Câu hỏi liệu cùng một người có thể tồn tại xuyên thời gian dù đã quên nhiều trải nghiệm trong quá khứ hay không, vẫn là chủ đề tranh luận. Các triết gia theo Chủ nghĩa Hiện sinh như Jean-Paul Sartre thì đưa ra khám phá về ý tưởng quên trong bối cảnh tự do và trách nhiệm. Trong bối cảnh này, sự lãng quên có thể được xem là cách thế để vượt thoát khỏi gánh nặng của quá khứ và tạo ra sự tồn tại (hiện hữu, hiện tồn, hiện sinh, hữu thể) của chính mình. Còn ông triết gia José Ortéga Y Gassett thì không ngần ngại nói thẳng thừng một cách rất ư là bình dân dễ hiểu, “Quá khứ và tương lai không thể là cuộc chiến đấu tay đôi. Tương lai phải nuốt chửng quá khứ, nuốt hết, không để sót lại gì thì mới khỏi thua trận.”
    Xem ra sự lãng quên là một thuộc tính tất yếu của con người mà không phải ai cũng có thể khắc phục hoặc chế ngự. Con người vốn chóng quên. Trong một thế giới bão hòa với thông tin và dữ kiện như cuộc sống ngày nay, sự chóng quên lại là một yếu tố cần thiết để thích ứng với các điều kiện nội tại cũng như ngoại tại, như triết gia John Locke từng lập luận rằng khả năng quên là điều cần thiết để duy trì bản sắc cá nhân của một con người theo thời gian, bởi nếu không quên, tâm trí chúng ta sẽ tràn ngập những thông tin không liên quan và lỗi thời.
    Những vụ thảm sát do chiến tranh gây nên đánh động tâm tư chúng ta, nhưng thử hỏi ngày nay ai còn nhớ đến Mậu Thân 1968, ai còn nhớ đến Kosovo, đến Iraq. Tôi dám cược bất cứ cái gì là chỉ trong vòng vài năm nữa, khi ngọn lửa chiến tranh tàn lụi, sẽ chẳng còn ai nhớ đến Ukraine, đến Palestine nữa. Hình ảnh thảm khốc những đứa bé chết cháy thành than sẽ lùi vào quên lãng.
    Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng hậu đình hoa.
    Thi hào Đỗ Mục từ thời Vãn Đường, thế kỷ IX, đã ngậm ngùi than thở như thế. Vâng, chẳng phải bây giờ người ta mới chóng quên.
    Đối với các thế lực cực quyền, đây chính là điểm yếu của con người mà họ khai thác tới hạn để che đậy những tội ác do chính họ gây ra. Họ sử dụng nó như một công cụ bài bản để sửa đổi lịch sử sao cho phù hợp với quan điểm giáo điều và chính thống của họ. Tất cả những gì không đi theo đường lối, chủ trương của họ hoặc bất lợi cho họ về mặt tuyên truyền, họ không ngần ngại cho vào bóng tối, phủ nhận, lấp liếm, đổ thừa, cho dù những hành vi đó phi lý, vô lý đến đâu chăng nữa. Bạn đừng phí công phí sức chất vấn hay tranh luận về sự không hợp tình hợp lý, không tôn trọng sự thật của họ. Chỉ vô ích thôi bởi bạn đang nói chuyện với một cục đất ù lì. Trong bóng tối, sự vật trở nên mù mờ, xập xoạng như những bóng ma – những bóng ma Nguyễn Hữu Đang, Clementis và hàng trăm hàng ngàn bóng ma khác – không một chút trọng lượng, chẳng mảy may tác động lên bất cứ sự việc nào, và chỉ thoi thóp lóe lên trong giây phút phù du của lòng hoài niệm.
    Có lẽ bởi thế Kundera đã phải chua xót nói rằng: “Cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại sự lãng quên.”
    Sự lãng quên sẽ ở với con người mãi mãi. Vĩnh viễn chúng ta bị đóng đinh vào sự lãng quên. Nó giúp cái Ác lên ngôi, và sự cứu chuộc vẫn nằm im không nhúc nhích bên trong lớp vỏ hy vọng mong manh của những kẻ khao khát Sự thật nhưng chẳng bao giờ tìm thấy.
 
– Trịnh Y Thư

Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.