Hôm nay,  

Sự lãng quên

10/11/202300:00:00(Xem: 4542)
su lang quen
 
Tuy lịch sử không nói đến, nhưng nếu chịu khó lục lọi đây đó, người ta sẽ tìm ra một giai thoại khá thú vị về việc bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trong buổi lễ trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945. Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà trên báo Cứu Quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang là người đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ Lâm thời cùng chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban Tổ chức Lễ đài, ông chính là người đứng trước micro giới thiệu: “Thưa đồng bào... Đây là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh.” Nói xong, ông lùi lại, nhường micro cho Hồ Chí Minh.
    Bức ảnh chụp ông Hồ đọc bản tuyên ngôn có Nguyễn Hữu Đang đứng ngay sau lưng. Có lẽ đó là bức ảnh được truyền bá sâu rộng nhất trong nước vào thời điểm đó, trên báo chí cho quần chúng đọc, trên sách vở cho học sinh, sinh viên học hành, trên tài liệu cho cán bộ, quân nhân học tập, v.v… Nhưng, hơn mười năm sau đó, sau khi ông Nguyễn Hữu Đang và nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm bị đảng trù giập không thương tiếc, bản thân ông bị tống cổ vào tù, thì hình ảnh ông đứng sau lưng Hồ Chí Minh bị tẩy xóa (rất tinh vi). Từ lúc đó trở về sau, bức ảnh Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập không có Nguyễn Hữu Đang.
    Cũng vào quãng thời gian này, một chuyện tương tự xảy ra bên trời Tây, sau Đệ nhị Thế chiến, chính xác là tại Tiệp Khắc, một quốc gia phiên thuộc của đế quốc Xô Viết. Chuyện này được nhà văn Milan Kundera [1929-2023] thuật lại trong cuốn tiểu thuyết Tập sách cái cười và sự lãng quên của ông, một tác phẩm quan trọng đã đưa tên tuổi ông lên hàng nhà văn tầm vóc quốc tế vào cuối thế kỷ XX. Ông viết như nhau:
    “Tháng Hai năm 1948, lãnh tụ Cộng sản Klement Gottwald bước ra bao lơn tòa dinh thự xây từ thời Baroque thủ đô Praha để hiệu triệu hàng trăm nghìn công dân đứng chật ních dưới quảng trường Phố Cổ. Đó là khúc quành trọng đại của lịch sử Bohemia – một thời khắc định mệnh.
    Đứng cạnh Gottwald là các đồng chí của ông, Clementis gần nhất, ngay bên cạnh. Tuyết rơi tầm tã, trời se sắt lạnh, và Gottwald để đầu trần. Thấy vậy Clementis ân cần lấy mũ của mình đội lên đầu Gottwald.
    Cơ quan tuyên truyền của đảng in ra hàng trăm nghìn bức ảnh Gottwald đứng trên bao lơn, mũ lông thú trên đầu, các đồng chí đứng bên cạnh, nói chuyện với quốc dân. Lịch sử xứ Bohemia Cộng sản khởi đi từ cái bao lơn đó. Qua bích chương, sách vở, bảo tàng viện, đứa trẻ nào cũng biết rõ bức ảnh.
    Bốn năm sau họ khép Clementis vào tội phản quốc và đem ông ra treo cổ. Ngay tức khắc cơ quan tuyên truyền của đảng bôi xóa ông khỏi lịch sử và, dĩ nhiên, ra khỏi tất cả những hình ảnh họ công bố trước đây. Từ lúc đó trở đi, Gottwald đứng một mình trên bao lơn.
    Nơi Clementis đứng giờ đây chỉ còn lại bức tường trơ trọi của tòa dinh thự. Clementis hoàn toàn tan biến, chẳng còn lại gì, ngoại trừ cái mũ lông thú trên đầu Gottwald.”
   Đảng Cộng sản Việt Nam xóa ảnh Nguyễn Hữu Đang đứng sau lưng Hồ Chí Minh, họ còn xóa những hình ảnh kinh hoàng của biến cố Tết Mậu Thân 1968 thảm khốc ra khỏi lịch sử. Trong chiến tranh, quân lính hai bên chém giết nhau là chuyện có thể chấp nhận, con người từ lâu vốn tự đặt ra quy luật bất thành văn như thế, nhưng giết người già, em bé vô tội – không phải một vài người mà hàng ngàn người – không chút vũ khí tự vệ trong tay là tội ác chiến tranh, là sát nhân. Biết như thế, người Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá, mọi cách, phải xóa bức ảnh thảm đát, ghê rợn đó ra khỏi lịch sử.
 
***
 
Nguyễn Hữu Đang của Việt Nam và Clementis của Tiệp Khắc, nạn nhân Mậu Thân 1968, bây giờ chỉ còn là những bóng ma, bóng ma quá khứ. Chỉ bóng ma mới có thể hiện ra và tan biến không để lại hình tích gì trên một bức ảnh, và bởi vì là bóng ma nên nó chỉ làm được một việc duy nhất là hù dọa trẻ nít và những kẻ yếu bóng vía. Nó chẳng làm được gì cho lịch sử. Lịch sử gạt nó ra ngoài lề, nếu ta hiểu lịch sử đồng nghĩa với quyền lực.
   Những bóng ma ấy, và vô vàn những bóng ma khác, sẽ dần dà trôi vào miền quên lãng. Sự hiện hữu của chúng là một nghi vấn, và trí óc con người luôn luôn sẵn sàng biến nghi vấn thành sự lãng quên.
    Sự lãng quên có ý nghĩa về mặt nhận thức, vì nó liên quan đến những gì chúng ta có thể biết và cách thế chúng ta biện minh cho niềm tin của mình. Nó cũng có thể liên quan đến chủ nghĩa hoài nghi trong triết học, đặc biệt trong ngữ cảnh của chủ nghĩa hoài nghi thế giới ngoại tại. Nếu chúng ta quên đi những trải nghiệm hoặc tri thức nhận thức trước đây, điều đó có thể đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của các giác quan và khả năng nhận thức thế giới bên ngoài. Triết gia Friedrich Nietzsche có một quan điểm thú vị về sự lãng quên. Ông lập luận rằng quên không chỉ là sự suy giảm trí nhớ mà là một khía cạnh cần thiết của ý chí quyền lực và sự tự khẳng định. Ông tin rằng các cá nhân cần quên đi những trải nghiệm và giá trị trong quá khứ để tạo ra những cái mới và khẳng định bản sắc riêng của mình. Khái niệm về sự lãng quên cũng có thể liên quan đến bản sắc cá nhân trong bối cảnh triết lý của tâm trí. Câu hỏi liệu cùng một người có thể tồn tại xuyên thời gian dù đã quên nhiều trải nghiệm trong quá khứ hay không, vẫn là chủ đề tranh luận. Các triết gia theo Chủ nghĩa Hiện sinh như Jean-Paul Sartre thì đưa ra khám phá về ý tưởng quên trong bối cảnh tự do và trách nhiệm. Trong bối cảnh này, sự lãng quên có thể được xem là cách thế để vượt thoát khỏi gánh nặng của quá khứ và tạo ra sự tồn tại (hiện hữu, hiện tồn, hiện sinh, hữu thể) của chính mình. Còn ông triết gia José Ortéga Y Gassett thì không ngần ngại nói thẳng thừng một cách rất ư là bình dân dễ hiểu, “Quá khứ và tương lai không thể là cuộc chiến đấu tay đôi. Tương lai phải nuốt chửng quá khứ, nuốt hết, không để sót lại gì thì mới khỏi thua trận.”
    Xem ra sự lãng quên là một thuộc tính tất yếu của con người mà không phải ai cũng có thể khắc phục hoặc chế ngự. Con người vốn chóng quên. Trong một thế giới bão hòa với thông tin và dữ kiện như cuộc sống ngày nay, sự chóng quên lại là một yếu tố cần thiết để thích ứng với các điều kiện nội tại cũng như ngoại tại, như triết gia John Locke từng lập luận rằng khả năng quên là điều cần thiết để duy trì bản sắc cá nhân của một con người theo thời gian, bởi nếu không quên, tâm trí chúng ta sẽ tràn ngập những thông tin không liên quan và lỗi thời.
    Những vụ thảm sát do chiến tranh gây nên đánh động tâm tư chúng ta, nhưng thử hỏi ngày nay ai còn nhớ đến Mậu Thân 1968, ai còn nhớ đến Kosovo, đến Iraq. Tôi dám cược bất cứ cái gì là chỉ trong vòng vài năm nữa, khi ngọn lửa chiến tranh tàn lụi, sẽ chẳng còn ai nhớ đến Ukraine, đến Palestine nữa. Hình ảnh thảm khốc những đứa bé chết cháy thành than sẽ lùi vào quên lãng.
    Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng hậu đình hoa.
    Thi hào Đỗ Mục từ thời Vãn Đường, thế kỷ IX, đã ngậm ngùi than thở như thế. Vâng, chẳng phải bây giờ người ta mới chóng quên.
    Đối với các thế lực cực quyền, đây chính là điểm yếu của con người mà họ khai thác tới hạn để che đậy những tội ác do chính họ gây ra. Họ sử dụng nó như một công cụ bài bản để sửa đổi lịch sử sao cho phù hợp với quan điểm giáo điều và chính thống của họ. Tất cả những gì không đi theo đường lối, chủ trương của họ hoặc bất lợi cho họ về mặt tuyên truyền, họ không ngần ngại cho vào bóng tối, phủ nhận, lấp liếm, đổ thừa, cho dù những hành vi đó phi lý, vô lý đến đâu chăng nữa. Bạn đừng phí công phí sức chất vấn hay tranh luận về sự không hợp tình hợp lý, không tôn trọng sự thật của họ. Chỉ vô ích thôi bởi bạn đang nói chuyện với một cục đất ù lì. Trong bóng tối, sự vật trở nên mù mờ, xập xoạng như những bóng ma – những bóng ma Nguyễn Hữu Đang, Clementis và hàng trăm hàng ngàn bóng ma khác – không một chút trọng lượng, chẳng mảy may tác động lên bất cứ sự việc nào, và chỉ thoi thóp lóe lên trong giây phút phù du của lòng hoài niệm.
    Có lẽ bởi thế Kundera đã phải chua xót nói rằng: “Cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại sự lãng quên.”
    Sự lãng quên sẽ ở với con người mãi mãi. Vĩnh viễn chúng ta bị đóng đinh vào sự lãng quên. Nó giúp cái Ác lên ngôi, và sự cứu chuộc vẫn nằm im không nhúc nhích bên trong lớp vỏ hy vọng mong manh của những kẻ khao khát Sự thật nhưng chẳng bao giờ tìm thấy.
 
– Trịnh Y Thư

Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.