Hôm nay,  

Độc lập có rồi, Tự do đâu?

03/09/202410:55:00(Xem: 3028)
vn court

Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…”
    Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực.

TỰ DO ĐÂU?
 
Trong lĩnh vực “tự do”, hai quyền “tự do ngôn luận-báo chí” và “tự do lập hội”được dành riêng cho các tổ chức và cơ quan của Chính phủ, Doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát. Nhà nước độc quyền thông tin và tuyên truyền. Người dân chỉ có quyền “được thông tin” từ nhà nước mà không có quyền thực hành thông tin theo ý muốn.
    Đảng chính trị đối lập bị tuyệt đối cấm. Mọi manh nha thành lập đảng đều bị Công an ngăn chặn. Đảng cầm quyền chống phân chia quyền lực. Mọi hành vi bất bình, phản đối đều bị đàn áp thẳng tay.
    Ngay cả đến quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” cũng do nhà nước kiểm soát. Các tổ chức Tôn giáo không do nhà nước thành lập, hoặc ảnh hưởng đều bị làm khó khăn hoặc cấm hoạt động.
    Bằng chứng này đã xẩy ra đối với đồng bào Hmong trên Cao nguyên miền bắc Việt Nam, và Dân tộc vùng Tây nguyên. Khối Phật giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang) của miền Nam Việt Nam thời Cộng hòa trước 1975 đã bị đàn áp dẹp tan là một bằng chứng.
    Ngay trong lĩnh vực Giáo dục, Nhà nước cũng buộc học sinh, sinh viên phải học môn Chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin-Tư tưởng Hồ Chí Minh, và chính sách cai trị độc tôn của đảng. Đảng cũng đã dành những ưu tiên nhập học cho học sinh “con cái đảng viên”.
    Những hạn chế tự do này là nguyên nhân  xẩy ra tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, song song với “quốc nạn tham nhũng” trong cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân của 3 “chứng bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không còn tin vào hiệu lực và sức mạnh của Chủ nghĩa Mác-Lênin và  tư  tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.
    Người dân cũng dã nhìn ra những sai lầm của đảng sau 30 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn (1945-1975) làm tan hoang đất nước và gây thương vong cho trên 3 triệu người dân và thanh niên tuấn tú.
    Ngoài ra, đảng CSVN cũng phải chịu trách nhiệm về số từ 100 ngàn đến 200 ngàn người Việt chết trên đường vượt biển tìm tự do, sau khi quân Cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975.
    Quan trọng hơn là tình trạng “mất đoàn kết dân tộc” và “chia rẽ vùng miền” do đảng CSVN gây ra từ sau 1975 đã khoét sâu hận thù hơn bao giờ hết giữa “kẻ chiến thắng” và “người dân bị trị”. Tình trạng kỳ thị Nam-Bắc, bằng mặt mà không bằng lòng giữa những kẻ “kiêu ngạo Cộng sản” và dân thất trận miền Nam vẫn tồn tại sau 30 năm, dù đảng cầm quyền không thừa nhận.
    Đó là lý do của trên 5 triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tị nạn khắp nơi trên Thế giới. Và đó cũng là đầu mối tại sao người Việt tị nạn gọi ngày 30/4 hàng năm là “tháng Tư Đen”, hay “Ngày Quốc hận”.

ẤM NO-HẠNH PHÚC

Đảng cũng khoe đã đem lại “cơm no áo ấm và hạnh phúc” cho ngưới dân từ khi giành được độc lập, nhưng tại sao chỉ sau ngày ký Hiệp định Geneve chia đôi đất nước 20/07/1954, đã có hơn 1 triệu người dân miền Bắc di cư vào sống đời tự do ở miền Nam?
    Lý do vì họ không muốn sống dưới quyền cai trị sắt máu của đảng. Bằng chứng này được xác nhận trong Cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc trong thời gian 1953-1955. Khoảng 200 ngàn người vô tội đã bị giết trong cuộc “cải cách đẫm máu” này. Có ước tính số người bị giết oan lên đến 500 ngàn.
    Nạn nhân nổi tiếng bị giết oan là bà Nguyễn Thị Năm (1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn.
Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.
    Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị...” (theo Bách khoa Toàn thư mở)

    Theo lời kể, ông Hồ Chí Minh biết rõ chuyện đau thương này nhưng “không can thiệp cứu mạng bà Năm”.
    Như vậy, có phải là đảng đã “ăn cháo đá bát” không? Người dân đâu có hạnh phúc dưới quyền cai trị hà khắc sai lầm của đảng ông Hồ. Và mặc dù nhân dân đã thoát vòng nô lệ của thực dân Pháp, nhưng lại bị tròng vào cổ chiếc xích “độc tài Cộng sản” cay nghiệt hơn.
    Ngày nay, 79 năm sau 1945, lời nói “không gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh chỉ đúng một nửa. Không ai phủ nhận Việt Nam đã có “độc lập”, nhưng “tự do” cho mọi người thì không. Quyền tự do chỉ dành cho đảng viên và những ai chịu  phục tùng lãnh đạo.
    Công bằng và Dân chủ cũng không dành cho mọi người. Đảng nắm hết để chia chác cho người thân, phe cánh. Quyền ứng cử và bầu cử cũng do đảng quyết định, thông qua Tổ chức ngoại vi của đảng lả Mặt trận Tổ quốc.
    Tất cả các cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân và Quôc hội phải được “hiệp thông” giữa các Tổ chức, hội đoàn và Mặt trận Tổ quốc. Tiêu chuẩn hàng đầu của các ứng viên là có lập trường chính trị vững vàng, phải tuyết đối trung thành và kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.
    Thậm chí ngay trong học đường, các tổ chức sinh viên và học sinh cũng do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nắm giữ và điều hành để đào  tạo các “hạt giống đỏ” hậu duệ cho đảng.

KINH TẾ PHỤC VỤ AI?

Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam Cộng sản thi hành chính sách gọi là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là “một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo và có trách nhiệm định hướng nền kinh tế, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội.”
    Bách khoa Toàn thư  mở viết: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới (1986) , thay thế nền kinh tế kế hoạch  (bao cấp thời Sô viết)  bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường. Những thay đổi này giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang ý nghĩa là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho một hệ thống xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Mô hình kinh tế này khá tương đồng với mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (socialist market economy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó các mô hình kinh tế tập thể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nhà nước.
    Đây chính là chủ trương “mở cửa có kiểm soát” do Nhà nước chỉ đạo. Quyết định này đã giúp đời sống người dân dễ thở hơn. Bằng chứng do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Money Fund, IMF) công bố hồi tháng 5/2024, theo đó lợi tức đầu người Việt Nam là 4,620 Mỹ kim/năm, trên Phi Luật Tân, Lào, Cao Miên, Miến Điện và Timor-Leste, nhưng cách xa Tân Gia Ba, 88,450 Dollars.
    Lợi tức của người Việt Nam tăng phần chính là nhờ đầu tư của nước ngoài. Theo thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết: “Bốn tháng đầu năm 2024, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt hơn 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so cùng kỳ năm 2023”.
    Đây là mức tăng ấn tượng vì 4 tháng năm 2023, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm 17,9% so cùng kỳ năm 2022.” (báo Nhân Dân, ngày 02/09/2024)
    Tuy nhiên, con người không chỉ sống bằng cơm áo mà còn cần có đời sống tinh thần thoải mái, phải có tự do và quyền tự quyết định thể chế chính trị cho mình.
    Hiện tại, Việt Nam Cộng sản không chấp nhận các quyền tự do ngôn luận-báo chí, lập hội và biểu tình. Đảng Cộng sản cũng bác yêu cầu có đảng chính trị đối lập, và không chấp nhận quyền bầu cử và ứng cử tự do của công dân. Người dân cũng không có quyền “từ chối đi bầu”, mặc dù đảng “không cấm” dân “tự ý” ứng cử, nhưng “phải được Mặt trận Tổ quốc đồng ý”. Những ứng cử viên loại này, thông thường là thất cử. Chuyện này đã xẩy ra cho ứng cử viên Lê Kiên Thành, con trai nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Duẩn, trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa VIII (1987-1992).
    Như vậy rõ ràng đời sống chính trị và tự do chỉ dành độc quyền cho đảng. Nhân dân, những người lam lũ đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi đảng chỉ được “ăn bã mía”.

– Phạm Trần

(09/024)

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.