Hôm nay,  

Cuộc Truy Sát Tri Thức

20/06/202500:00:00(Xem: 2258)

Capture
Sinh viên Harvard biểu tình phản đối các chính sách hạn chế nhập học và quyền tự do học thuật dưới thời chính quyền Trump. (Ảnh VB)

“Nơi nào người ta bắt đầu đốt sách, nơi đó người ta rồi cũng sẽ thiêu người.”
— Heinrich Heine

Câu nói nổi tiếng từ thế kỷ XIX của thi sĩ Heinrich Heine, tưởng chỉ là tiếng vọng u ám của bóng ma lịch sử, nhưng hôm nay, giữa thế kỷ XXI, lời cảnh báo ấy lại trở nên rúng động – ngay trên đất nước từng được xem là ngọn hải đăng của tự do học thuật.

Oái oăm thay, những dấu hiệu đầu tiên của bóng tối không phát xuất từ một chế độ độc tài phương Đông, mà từ chính nước Mỹ – xứ sở từng được xem là ngọn hải đăng của giáo dục tự do.

Chính quyền Tổng thống Donald Trump, trong nhiệm kỳ mới, đã ra tay một cách táo tợn: chặn đường sinh viên quốc tế nhập học, hủy visa, đòi các trường cung cấp danh sách sinh viên từng tham gia biểu tình, và thậm chí đe dọa rút toàn bộ ngân sách liên bang khỏi các đại học không “tuân phục”. Cái tên đầu tiên bị nhắm đến không xa lạ: Harvard.

Theo sắc lệnh ký ngày 4 tháng 6 năm nay, Tòa Bạch Ốc đã chính thức cấm sinh viên quốc tế mới nhập học tại Harvard trong sáu tháng, đồng thời yêu cầu Bộ Ngoại giao xem xét thu hồi visa đang có hiệu lực. Hơn 2.000 sinh viên đã bị hủy visa – nhiều người trong số đó bị cáo buộc “kích động phản đối” hoặc đơn giản chỉ vì chia sẻ những nội dung nhạy cảm trên mạng xã hội.

Không dừng lại ở đó, hàng loạt khoản tài trợ liên bang dành cho các đại học hàng đầu như Harvard, Columbia, và Princeton đã bị đóng băng, viện dẫn lý do các trường “không hợp tác” trong việc trấn áp phong trào phản đối chính phủ hoặc không đủ nỗ lực bài trừ chủ nghĩa bài Do Thái. Riêng Harvard bị đình chỉ hơn 2.3 tỉ Mỹ kim, đe dọa nghiêm trọng đến nhiều chương trình nghiên cứu và học bổng.

Người ta chưa đóng cửa đại học, nhưng bắt đầu đóng cửa những cánh cửa của tri thức. Chưa đốt sách – nhưng đốt cả một truyền thống tự do học thuật.

Nhớ lại Việt Nam sau 1975, toàn bộ giới trí thức – từ giáo sư, linh mục, tu sĩ đến văn nghệ sĩ – đều bị bắt đi “học tập cải tạo”. Những ai bị xem là có liên hệ với chế độ cũ, hoặc chỉ đơn thuần mang tư tưởng độc lập, đều rơi vào vòng kiểm soát. Tự do sáng tạo bị bóp nghẹt, học thuật và văn nghệ bị kiểm duyệt gắt gao. Nhiều người chọn im lặng, một số lớn phải vào tù. Đời sống tinh thần của dân tộc bước vào một giai đoạn tê liệt kéo dài.

Tại Trung Hoa, ba thập niên sau Thế chiến, Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa (1966–1976), cho đóng cửa toàn bộ đại học, đưa trí thức đi cải tạo, bêu rếu thầy cô giữa sân trường, đốt sách xé vở.

Khi trường học đóng lại, trại giam mở ra.  Khi nghiên cứu bị chặn, bạo lực lên ngôi. Hai chế độ, hai thời điểm, nhưng chung một bản chất: nỗi sợ hãi đối với tri thức tự do.

Chính vì thế, những người đã đi qua thời tăm tối ấy không khỏi mỉa mai khi thấy Hoa Kỳ đang bước vào một “khoảnh khắc Mao” của riêng mình.

Nhưng sau thời Mao, Trung Quốc đã mau chóng nhận ra rằng muốn phục hưng, không thể thiếu học thuật. Năm 2009, chính quyền Bắc Kinh thành lập Cửu Trường Liên Minh (C9 League) – tương đương Ivy League của Hoa Kỳ – với chỉ 3% nhà nghiên cứu mà chiếm đến 20% công trình khoa học quốc gia.**

Trong khi đó, nước Mỹ lại đang quay lưng với giới trí thức của chính mình. Việc ngăn chặn sinh viên ngoại quốc không chỉ gây tổn hại văn hóa – mà còn là đòn giáng nặng nề vào khoa học, kỹ nghệ, và cả danh dự quốc gia.

Jerome Powell – Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang, người do chính Trump bổ nhiệm, trong bài diễn văn tốt nghiệp tại Đại học Princeton tháng vừa rồi cũng phải nói: “Các đại học Hoa Kỳ là niềm mơ ước của thế giới, và là bảo vật chiến lược cho nền kinh tế.”

Hôm nay, khi Harvard bị tấn công, khi sinh viên biểu tình bị đe dọa, và khi tiếng nói của khoa bảng bị bóp nghẹt – chiếc hộp Pandora của thế kỷ lại được hé mở, để rồi không chỉ tri thức – mà cả tự do, lương tri, và hy vọng - cũng bắt đầu bị gió cuốn bay.

Heinrich Heine, người sống cách chúng ta gần hai trăm năm trước đã không nói chơi:

“Nơi nào người ta bắt đầu đốt sách, nơi đó người ta rồi cũng sẽ thiêu người.”

Người ta có thể thay lửa bằng luật pháp, thay pháp trường bằng tòa án, thay bạo lực bằng hành chính — nhưng kết cuộc thì vẫn chỉ là sự tàn phá của một xã hội đang sợ hãi tri thức.

Nguyên Hòa
 
* Câu nổi tiếng từ vở kịch Almansor (xuất bản 1823), thường được trích lại là:
“Dort wo man Bücher verbrennt, verbrennt man auch am Ende Menschen.”
(“Where they burn books, they will in the end also burn people.”)
** Nature Index 2019; UNESCO Science Report 2021; Reuters, The Guardian, Associated Presstháng 6, 2025.
 

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.